Hiển thị các bài đăng có nhãn nghề kim hoàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghề kim hoàn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

KHÔNG CÓ NGƯỜI THÔNG DỊCH CHUẨN SẼ MẤT KIẾN THỨC

Chào các bạn, tôi xin kể lại kinh nghiệm của mình qua những năm tháng làm trong lĩnh vực nữ trang, về những lợi ích của việc tìm đúng người thông dịch chuyển giao công nghệ nữ trang.
Trong một lần, công ty chúng tôi mua về một dàn máy sản xuất dây chuyền hình cầu, hình trụ các loại (còn gọi là dây bi) như hình đính kèm của Hàn quốc. Phòng kỹ thuật của tôi chịu trách nhiệm nhận chuyển giao công nghệ sản xuất loại dâynày từ nhà cung cấp rồi triển khai lại cho phòng sản xuất.
Vì việc chuyển giao công nghệ sản xuất lần này không dùng tiếng Anh như các dự án trước do chuyên gia Hàn quốc không biết tiếng Anh. Nên ngoài việc chuẩn bị các thứ để nhận chuyển giao công nghệ như thường lệ (như lắp đặt máy sẳn sàng, chuẩn bị nguyên vật liệu, dụng cụ làm việc, việc ăn, ở, xe đưa đón chuyên gia,….) tôi còn phải nhờ bạn bè tìm giúp thông dịch viên tiếng Hàn (vì nếu là tiếng Anh thì tôi sẽ làm việc trực tiếp với chuyên gia). Mọi việc sắp đặt cuối cùng cũng xong và chúng tôi bắt đầu ngày làm việc đầu tiên với chuyên gia và anh bạn thông dịch viên tiếng Hàn trẻ được bạn bè giới thiệu.
nghe kim hoan,nghề kim hoàn,máy cắt ,may cat,may keo chi,máy kéo chỉ
Tuy nhiên, ngày đầu tiên đó trôi qua thật bó buôc và nặng nề. Tôi thấy ông chuyên gia Hàn Quốc hay nhăn mặt. Đôi khi rất ít nói mà chỉ làm thao tác cho chúng tôi xem thôi. Anh bạn thông dịch viên đó cũng chỉ biết nói như máy dịch chứ không làm được hơn vai trò chuyển ngữ giữa bên hỏi và bên trả lời.
Tuy không nói chuyện được với chuyên gia Hàn quốc nhưng tôi cảm thấy có chuyện gì không ổn rồi. Đến cuối ngày ông chuyên gia kéo tôi ra một góc khuất và ra dấu chỉ tay như nói với tôi rằng :”hãy thay người thông dịch viên đó”.
Thế là tối đó tôi chạy vạy liên lạc ngay bạn bè tìm người thông dịch khác để thay thế và yêu cầu cả hai gặp nhau nói chuyện làm quen tìm hiểu về nhau trước khi chính thức làm việc vào ngày mai.
Quả thực, sau một lúc nói chuyện với bạn thông dịch mới ông chuyên gia mới nói rằng bạn trẻ thông dịch viên trước đó chỉ biết sơ sơ Tiếng Hàn, làm nhiệm vụ chuyển ngữ thì được, nhưng để làm chuyển giao công nghệ ngành nữ trang, mà không hiểu gì về máy móc, thiết bị, nên dịch như một cái máy.
Nhiều khi tôi thấy có vẻ anh ấy dịch lung tung hết. Tôi chỉ đường dây, mọi người lại chú ý đến bộ khuôn,….. Nếu công ty chọn người kém, hay chọn cho có người như vậy, sẽ bị thiệt thòi rất lớn và ông ta cũng thấy rất chán nản bực bội vì không biết làm sao. Còn anh này là người hiểu biết. Anh ấy hiểu tôi chia sẻ gì và sẽ chuyển lại trọn vẹn cho các bạn. Đôi khi những chi tiết mà các bạn có vẻ không hiểu, anh ấy biết hỏi thêm nữa. Tôi rất vui vì điều đó. Lịch làm việc của tôi chỉ còn 01 ngày ở Việt Nam. Nhưng tôi sẽ ở thêm 01 ngày để chia sẻ kỹ cho các vị. Tôi đã yên tâm giao máy và giao công nghệ, quy trình sản xuất cho các bạn theo hợp đồng.
Ngày hôm sau, ông chuyên gia người Hàn Quốc vui hẳn lên. Ông chia sẻ rất nhiều và rất kỹ các công đoạn của quy trình sản xuất dây chuyền bằng máy, cách vận hành máy, cách chỉnh khuôn mẫu. Các anh em chúng tôi cũng hào hứng hơn vì được đón nhận những kiến thức công nghệ kim hoàn mới mà chưa từng nghĩ tới.
Trở về với vấn đề của các bạn. Các doanh nghiệp sản xuất kim hoàn trong nước vẫn liên tục phải cập nhật kiến thức, kinh nghiệm của nước ngoài. Vậy các bạn đã làm gì để khai thác tối đa kiến thức và công nghệ kỹ thuật khi mua máy móc hay tiếp xúc với các chuyên gia?
Hàng năm, có nhiều cuộc triển lãm, nhiều hợp đồng mua bán, nhận hàng làm gia công từ nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam hãy tận dụng thời điểm ấy để tiếp xúc công nghệ, học hỏi mẫu mã và mô hình làm việc tiên tiến của người ngoài. Nhưng mỗi lần đầu tư hàng chục triệu, hàng tỷ đồng như thế, bạn đã chú ý nhờ đến chuyên gia thông dịch, làm cầu nối chuyển tải kiến thức, kinh nghiệm cho mình chưa?
nghe kim hoan,nghề kim hoàn,máy cắt ,may cat,may keo chi,máy kéo chỉ
Trong những năm qua, tôi hiểu được ý nghĩa của việc dịch chuyển giao kỹ thuật này. Nếu các bạn gặp khó khăn trong khâu nắm bắt kỹ thuật, công nghệ  khi mua máy móc, tham quan nước ngoài, đừng ngần ngại nhờ thông dịch viên chuyên ngành nhé.
nghe kim hoan,nghề kim hoàn,máy cắt ,may cat,may keo chi,máy kéo chỉ
Nguyễn Chí Cường
Nghề kim hoàn

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

TIÊU CHUẨN VÀ HỢP CHUẨN TAY NGHỀ BẬC THỢ NGÀNH KIM HOÀN



Ngành kim hoàn là một ngành kinh tế kỹ thuật tổng hợp. Xét về mặt kỹ thuật nó cũng là môi trường phát triển sáng tạo của các ngành tin học, cơ khí, hoá chất, điện tử, địa chất,….Xét về mặt lao động nó cũng gồm nhiều tầng lớp lao động trong đó như từ tiến sỹ đến công nhân của các ngành trên. Đặc biệt là riêng trong ngành kim hoàn có những tên gọi riêng cho người lao động trong đó như “Nghệ nhân”, “Bàn tay vàng”, “Thợ giỏi”,….

Tuy nhiên cho đến nay, các tên gọi riêng đó cũng chỉ mang tính tôn vinh công nhận sự cống hiến của những người lao động đó cho ngành chứ không phải là thước đo tay nghề bậc thợ có tính tiêu chuẩn, có giá trị toàn ngành tại Việt nam cũng như với thế giới. Chưa kể việc đặt ra những tên riêng đó, tiêu chuẩn xét công nhận, phong tặng  cũng mỗi nơi mỗi khác!? Nghệ nhân của Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Tp. Hồ chí Minh không có nghĩa là Nghệ nhân của Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Việt nam. Ngược lại, Tiêu chuẩn phong tặng Nghệ nhân Kim hoàn Quốc gia cũng không có nghĩa là cùng Tiêu chuẩn được các Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý ở các tỉnh thành công nhận….

Trong xu thế hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng, ở nước ta đã có sự quan tâm đến việc Tiêu chuẩn và Hợp chuẩn hài hoà với thế giới nhằm thúc đẩy phát triển thương mại mọi mặt.  Do đó, Ngành kim hoàn nước ta cũng không thể chấp nhận kéo dài tình trạng như không ai công nhận tuổi vàng trong nữ trang của nhau, không ai công nhận tay nghề danh hiệu của nhau, các doanh nghiệp ngành kim hoàn không biết xếp bậc lương cho thợ kim hoàn của mình như thế nào? chưa có nơi kiểm định tuổi vàng độc lập được quốc tế công nhận…..

Có thể nói, trong những Tiêu chuẩn liên quan đến một ngành kinh tế như ngành kim hoàn thì những Tiêu chuẩn liên quan đến trình độ năng lực của lực lượng lao động chuyên ngành (gọi tắt là Tiêu chuẩn bậc thợ ngành kim hoàn) là quan trọng nhất. Vì nó sẽ là động lực có tác dụng thúc đẩy sự phát triển con người hữu hiệu cho ngành. Khi đó sẽ không còn sự thiệt thòi về quyền lợi bảo hiểm hoặc thu nhập cho người lao động ngành kim hoàn khi di chuyển từ công ty này sang công ty khác, sẽ giảm chi phí đào tạo cho người lao động và toàn ngành, ….và rất nhiều lợi ích khác từ tiêu chuẩn hoá. Đặc biệt nếu Tiêu chuẩn đó được Hợp chuẩn hài hoà với Tiêu chuẩn quốc tề hoặc khu vực.

Vậy để Tiêu chuẩn bậc thợ ngành kim hoàn thành hiện thực chúng ta phải bắt đầu cụ thể từ đâu? Ai làm? Ưu tiên việc gì? Bao giờ làm? Vai trò của nhà nước, của các Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý Quốc gia và các tỉnh thành cũng như vai trò của Hội viên ra sao? Cam kết của từng thành viên nói trên là gì?
Website http://nghekimhoan.com/  xin mạn phép đặt ra vấn đề này như là khởi đầu cho diễn đàn trao đổi rộng rãi của dư luận trong và ngoài ngành. Xin mời các bạn tham gia tích cực diễn đàn và mời gọi nhiều người khác cùng tham gia tại fanpage FaceBook của chúng tôi theo link https://www.facebook.com/nghekimhoan . 

Chúng tôi cũng sẽ chủ động mời các nhân vật quan trọng trong và ngoài ngành cùng chia sẻ vấn đề này để rộng đường dư luận. Sự nhiệt tình hưởng ứng của các bạn sẽ là động lực cùng chúng tôi góp phần nhỏ bé cho ngành kim hoàn nước ta phát triển vững chắc.
Chào thân ái.


Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013

RỒNG TRONG THẾ GIỚI TÂM LINH CỦA NGƯỜI VIỆT


Hình ảnh Rồng trong thế giới tâm hồn của người Việt

Con rồng là biểu tượng tâm linh của cả thế giới phương Đông và Phương Tây. Tuy nhiên, đối với người Việt thì Rồng là một con vật linh thiêng, là biểu tượng của mưa thuận, gió hòa và khởi thủy dòng giống…


Con rồng trong khai sinh người Việt

Theo truyền thuyết, người Việt vốn là con Rồng cháu Tiên. Lạc Long Quân là con trai Long Vương, thuộc nòi Rồng, kết hôn với Âu Cơ là thuộc dòng tiên trên núi. Sự kết duyên giữa núi rừng biển, rồng tiên ấy đã sinh ra cái bọc trăm trứng, nở trăm con. Sau đó, 50 con theo cha xuống biển, khai hoang lập ấp ở các vùng đồng bằng. 50 con theo mẹ lên núi, lập nghiệp.

Sự phát sinh đó tạo nên các dòng giống: tộc người Việt và các dân tộc thiểu số ở ở ta hiện nay. Sự liên kết đó hình thành nên nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt là Văn Lang rồi phát triển đến ngày nay.

Do đó, người Việt và các cộng đồng dân tộc Việt đều xem Rồng là biểu tượng tâm linh lớn lao, là sự sinh thành nên mình.

Rồng của người Việt

Còn xét về văn hóa, tập quán, dân tộc Việt sinh sống chủ yếu trên khu vực đồng bằng. Đây là vùng được hình thành từ sự bồi đắp của những con sông lớn với nền văn minh lúa nước phát triển mạnh. Do vậy, người Việt đã phác họa ra hình tượng con Rồng khác biệt với Rồng của các nước khác trên thế giới.

Rồng của người Việt là tượng trưng cho mưa thuận gió hòa cung cấp nước cho nền nông nghiệp trồng lúa, chứ không phải là những con Rồng đáng sợ, phun lửa, hủy diệt … như ở các nước phương Tây.

Theo hình dung của người Việt, Rồng là một con vật thân dài, có vẩy, chân có móng,... được gọi là là giao long, hay thuồng luồng.
nghe kim hoan, nghề kim hoàn, duc gia cong, đúc gia công, duc nu trang, đúc nữ trang, nu trang, nữ trang, thợ bạc, tho bac
Hình tượng Rồng thời Lý
Sự phát triển hình tượng rồng qua các triều đại

Trong thời kỳ phong kiến, Rồng là biểu tượng của vua, chúa, là biểu tượng của sức mạnh, của quyền lực tối cao, cho sự tốt đẹp may mắn và thịnh vượng.
Lý Thái Tổ lúc dời đô ra thành Đại La, thấy Rồng vàng bay lên. Vua cho là điềm may mắn liền đặt tên Đại La là Thăng Long.

Rồng thời Lý có thân dài, 4 chân, mảnh như rắn, có vây lưng, mình uốn khúc mềm mại, uyển chuyển, há miệng vờn viên ngọc quý, từ mũi thoát ra mào rồng có dạng ngọn lửa... Đây là tượng trưng mơ ước của cư dân trồng lúa nước với  khung cảnh mây, nước.

Đến thời Trần, Rồng được bổ sung thêm cặp sừng và đôi tay. Thân rồng mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, nhưng động tác lượn khá thoải mái và dứt khoát, mạnh mẽ với tư thế vươn về phía trước.
Hình tượng Rồng thời Trần
Hình tượng Rồng thời Trần

Rồng thời Lê có sự khác biệt với các triều đại khác. Rồng thời kỳ này được khắc họa với đầu to, bờm lớn ngược ra phía sau, chiếc mào lửa được thay thế bằng chiếc mũi to, thân uốn thành 2 khúc lớn, chân có 5 móng quắp lại trông dữ tợn. Con rồng tượng trưng cho uy quyền của vương triều.

Rồng thời Nguyễn có dáng vẻ uy nghi, tượng trưng cho sức mạnh.
Hình tượng Rồng thời Nguyễn
Hình tượng Rồng thời Nguyễn
Rồng trong đời sống tâm linh

Rồng được cho là biểu trưng của sự mạnh mẽ, hùng tráng, là uy lực bất bại trước kẻ thù. Với tính năng siêu việt, Rồng được người Việt tin là linh vật mang lại điềm lành, sự may mắn, thịnh vượng, sự thông thái. Đồng thời, Rồng còn là sứ giả để gửi gắm những ước vọng trong đời: cầu mưa, cầu phồn thực.

Chính từ đó, từ xa xưa đã xuất hiện nhưng câu chuyện dân gian, cổ tích truyền miệng như: Rồng hút nước biển Đông để tưới vào đất liền; Cá chép vượt vũ môn hóa Rồng; Rồng trừng trị kẻ ác để bảo vệ chúng dân, mang đến cuộc sống phồn vinh….

Trong đời sống người Việt, hình tượng Rồng là một hình tượng không thể thiếu từ việc đặt tên các địa danh ở khắp mọi miền đất nước: cầu Long Biên, đền Long Đỗ, cầu Hàm Rồng, Bến Nhà Rồng,... Các trò chơi dân gian như: múa lân, múa Rồng, múa rối nước … cũng có nhiều tình tiết gắn với con rồng với mong muốn mang lại vận may, hạnh phúc, ấm no.
nghe kim hoan, nghề kim hoàn, duc gia cong, đúc gia công, duc nu trang, đúc nữ trang, nu trang, nữ trang, thợ bạc, tho bac
Sản phẩm nhẫn rồng do công ty TNHH Dịch vụ Nghề kim hoàn Thiện Chí chế tác.
Từ trước đến nay, việc xây dựng cung điện, lăng tẩm, đình chùa, miếu… đều được các nhà địa lý xem xét tới long mạch với những trang trí, chạm trỗ, điêu khắc hình Rồng với sự uy nghiêm, sức mạnh không ai có thể so sánh được.

Trong đời sống ngày nay, người Việt còn có một chút mê tín hóa biểu tượng của Rồng. Chẳng hạn như việc chọn năm Rồng để sinh con, chọn ngày giờ phù hợp sinh con để được quẻ Thuần Rồng,…
Đời sống công nghiệp hiện đại có phần làm mai một hình tượng Rồng. Chỉ có những người hiểu văn hóa mới chú ý gìn giữ sự tôn nghiêm của nó.

Tuy nhiên, chính những giá trị tốt đẹp của Rồng trong tâm thức người Việt đã đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nó. 

nghe kim hoan, nghề kim hoàn, duc gia cong, đúc gia công, duc nu trang, đúc nữ trang, nu trang, nữ trang, thợ bạc, tho bac
Bút con rồng | sản phẩm của công ty TNHH Dịch vụ Nghề kim hoàn Thiện Chí.

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

Ý THỨC DÂN TỘC TRONG NGHỀ KIM HOÀN - PHẦN 3


Phần 3: PHÁT TRIỂN CHỦ QUYỀN ĐẤT NƯỚC TỪ NGHỀ KIM HOÀN  

Vào thời chúa Nguyễn, Triều đình Tây Sơn, Nhà Nguyễn, ý thức dân tộc tự chủ của nước ta phát triển mạnh mẽ đến rực rỡ. Nghề kim hoàn đã dẫn lối cho người Việt xác định cương vực lãnh thổ, mà còn cho thấy sự ngang bằng về quyền lực với Phương Bắc.
Tiếp theo phần 2, bên cạnh sự phát triển phồn thịnh của nghề kim hoàn dân dụng, chủ quyền lãnh thổ của nước ta được phát triển và khẳng định qua từng dấu tích bước đi của nghề vàng bạc.
Khi đã phát triển tương đối ổn định trong đất liền, chúa Nguyễn đã phát triển tìm kiếm sản vật ở ngoài khơi xa. Triều đình lập các đội khai thác, tìm kiếm báu vật ở các vùng biển đảo xa xôi của tổ quốc. Vào thời gian này, các đội tàu tìm kiếm vàng, khoảng sản của Người Việt đã ra xác định chủ quyền ở các đảo, quần đảo như Trường Sa, Hoàng Sa, Thổ Chu, Côn Đảo…
Sách Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn xác định Bãi Cát Vàng là Trường sa thuộc quản lý thuộc về địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Đội Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải ở phía nam, tức quần đảo Trường Sa ngày nay.
Như vậy, sự phát triển của nghề kim hoàn cho chúng ta xác định chủ quyền biển đảo của lãnh thổ. Đây cũng là minh chứng để chúng ta giải quyết tranh chấp lãnh thổ biển đảo hiện nay.
Trong thời gian này, chúa Nguyễn được Vua Lê – Chúa Trịnh ngăn ảnh hưởng của từ phương Bắc nên có điều kiện học tập khoa học kỹ thuật, phát triển kim hoàn từ Phương Tây. Qua đó, nghề kim hoàn không chỉ làm nữ trang phục vụ trong nước mà còn làm mặt hàng xuất khẩu, khí giới.
Sách lịch sử nghề kim hoàn viết: Về những người thợ kim hoàn được liệt vào binh lính, ăn lương hoặc miễn xâu thuế. Ngoài phục vụ cho nội cung ra, họ còn làm các mặt hàng xuất khẩu, tham gia các ngành nghề đòi hỏi về kỹ thuật tinh xảo và độ chính xác cao như làm cò máy sung, đúc tiền, đúc pháo…
Theo lịch sử nghề kim hoàn, thì vào thời nhà Hồ, nước ta đã sản xuất được trọng pháo từ đồng thau và sắt, làm cho quân Minh xâm lược phải kinh hải. Sau khi xâm chiếm được nước ta, quân Minh bắt hết thợ kim hoàn giỏi nước Nam về Phương Bắc truyền dạy cho họ kỹ thuật đúc pháo (Trong đó có Hồ Nguyên Trưng – con cả của Hồ Quý Ly). Đến vào thời Chúa Nguyễn này, nước ta đã khôi phục lại được nghề và có các thợ kim hoàn giỏi, tự sản xuất vũ khí bảo vệ đất nước.  
Khi nghĩa quân Tây Sơn đánh tan các tập đoàn phong kiến, dẹp quân Thanh thống nhất đất nước, thế lực nhà Tây Sơn rất hùng mạnh. Vua Quang Trung còn nuôi ý định đánh lên phương Bắc. Nhà Tây Sơn có lúc đã tập hợp được 30 vạn quân binh chuẩn bị cho việc đó. Để làm bàn đạp, vua Quang Trung hỏi cưới công chúa nhà Thanh, mượn đất đóng đô. Càn Long nhà Thanh đã đồng ý gã con gái và cắt đất Lưỡng Quảng ( Quảng Đông – Quảng Tây hiện nay) làm sính lễ.
Sự hùng mạnh của Triều Tây Sơn cũng thể hiện của các bảo vật kim hoàn. Khi đi sứ, Triều Tây Sơn có tặng cho nhà Thanh những nữ trang quý. Nhưng đó chỉ là những bảo vật lễ nghi. Còn sứ giả Tây Sơn được tặng lại vàng ngọc còn nhiều và giá trị hơn những thứ đã thứ tặng.
Tuy nhiên, sự nghiệp phát triển đất nước của Vua Quang Trung còn dang dở thì mất đột ngột.
Triều nhà Nguyễn lên thay. Vua Gia Long sai sứ sang Trung Quốc hỏi ý lấy tên nước là Nam Việt. Nam Việt là phần đất quốc gia cổ, trong đó bao gồm Bắc Việt Nam Lưỡng Quảng và khu vực lân cận. Vua quan nhà Thanh lo sợ cho rằng Gia Long cho người sang đòi đất của người Việt cổ, và cũng đã từng hứa cắt Lưỡng Quảng cho Triều Tầy Sơn. Nhà Thanh không thực hiện điều đó và gợi ý đổi ngược tên nước từ Nam Việt thành Việt Nam.
Sự phát triển tự chủ cũng phản ánh qua nghề kim hoàn. Ở nhà Nguyễn, việc giao tiếp sính lễ vàng bạc cũng có qua các lần đi sứ. Nhưng các sứ thần nước Việt cũng được tặng lại tương tự. Việc tặng các sản phẩm vàng ngọc đó chỉ mang ý nghĩa trao đổi quà với nhau giữa các vua hai nước.
Đến đây, chúng ta có thể thấy ý thức dân tộc của người Việt đã phát triển mạnh mẽ. Nghề Kim Hoàn đã minh chứng cho sự phát triển ngang hàng của nước ta với chính quyền phương Bắc.

Ý THỨC DÂN TỘC TRONG NGHỀ KIM HOÀN - PHẦN 2


Từ xa xưa, dân tộc ta luôn bị phong kiến phương Bắc đô hộ, xâm lược. Chúng ta bị cướp, bị buộc cống phẩm nhiều sản vật quý cho các Triều đại Trung Quốc. Trong đó, các công phẩm chủ yếu là các vật phẩm vàng, bạc từ nghề kim hoàn.
Từ tiến trình lịch sử nghề Kim hoàn Việt Nam, cũng nói lên được ý thức dân tộc, chủ quyền của nước ta trong từng thời kỳ lịch sử. Dân ta từ việc phải cống nộp tài sản đến không khuất phục. Và đỉnh cao là học nghề của chính người Hoa truyền bá sâu rộng cho nhân dân cả nước để tự sản xuất.
Phần 2: XÁC ĐỊNH RIÊNG GIÁ TRỊ KIM HOÀN CHO NGƯỜI VIỆT VÀ XUẤT KHẨU RA KHU VỰC
Vào thời Chúa Nguyễn nghề Kim hoàn được ý thức phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn. Nó tạo nền móng cho nhiều mô hình quản lý xã hội Việt Nam hiện nay. Sản phẩm kim hoàn của Việt Nam không chỉ dùng trong nước mà còn xuất khẩu.
Tiếp theo phần 1, song hành với tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh ở phía Bắc dành ý thức dân tộc tự chủ, không lệ thuộc thì tập đoàn chúa Nguyễn ở phía Nam có sự bình yên và phát triển mạnh mẽ.
Các chúa Nguyễn đã cai trị rộng mở và đẩy mạnh phát triển mọi mặt trong đó nghề kim hoàn được chú trọng hàng đầu. Vào thời các Chúa Nguyễn Miền Nam, kinh tế phát triển vững mạnh không ngừng. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn thì trước đây, chưa có triều đại nào lại chý ý quan tâm đến nghề kim hoàn như bây giờ.
Đối với nhân dân:
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tham gia nghề kim hoàn. Thậm chí, nhà chúa còn còn cấp phát tiền công, miễn trừ sưu thuế cho người đi tìm vàng.
Đối với ngành nghề:
Triều đình cử các tướng lĩnh trông coi nghề kim hoàn. Ở các mỏ vàng như Quảng Nam, Thuận Hóa, chính quyền lập các cơ sở lọc, nấu vàng có tên là liêm hộ thuộc.
Ở cấp Trung Ương:
Triều đình lập các “Ty”của nghề kim hoàn (tương đương với các Bộ bay giờ mà đến thời những năm 45 – 75 nước ta vẫn còn dùng từ này, sau đó mới đổi sang Bộ).
 Ngân Tượng ty (Ty thợ bạc) trông coi nghề nấu vàng.
Nội lệnh sử Ty chuyên đi thâu nhận vàng khai thác được trong nhân dân ở các xứ.
Ở kinh thành Thuận Hóa (Huế) còn có xưởng kim hoàn của Triều đình gọi là Nội Kim Tượng Cuộc tức Cục thợ làm vàng (“Cục” tương đương với các cục đường sắt, cục trại giam … nhà nước như hiện nay đang dùng). Nội Kim Tượng Cuộc quy định rõ cân lượng chuẩn xác cho nghề kim hoàn thời đó như: cứ 10 lượng vàng 9 tuổi thì nấu thành 01 thoi. Vì vậy có thể xem Nội Kim Tượng Cuộc có vai trò như Ngân hàng Trung Ương bây giờ.
Năm 1634, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cho xuất sang Nhật 50 cái bát, 50 cái đĩa có phân nửa bằng vàng, phân nửa bằng bạc. Điều đó cho thấy nghề kim hoàn của chúa Nguyễn Phía Nam phát triển mạnh. Nhà chúa không bị cướp bóc, ép đền mạng bằng tượng vàng như tập đoàn Lê Trịnh mà sản xuất ra nhiều, đạt khả năng chất lượng và thẫm mỹ để xuất khẩu.
Qua đó chúng ta có thể thấy rằng, nghề kim hoàn thời này đã đặt nên móng cho một số quy chuẩn thước đó, xây dựng nhiều làng nghề, bộ ngành quản lý riêng của người Việt truyền lại cho thế hệ sau. Nó thể hiện cách nhìn của người Việt, từng bước thực hiện tiêu chuẩn, tên gọi riêng chứ không ảnh hưởng vào nghề kim hoàn của Trung Quốc nữa. 
Còn tiếp...

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

Ý THỨC DÂN TỘC TRONG NGHỀ KIM HOÀN - PHẦN 1

Từ xa xưa, dân tộc ta luôn bị phong kiến phương Bắc đô hộ, xâm lược. Chúng ta bị cướp, bị buộc cống phẩm nhiều sản vật quý cho các Triều đại Phương Bắc. Trong đó, các cống phẩm chủ yếu là các vật phẩm vàng, bạc từ nghe kim hoan.

Theo tiến trình lịch sử nghề kim hoàn Việt Nam đã nói lên được ý thức dân tộc, chủ quyền của nước ta trong từng thời kỳ lịch sử. Dân ta từ việc phải cống nộp tài nguyên đến không khuất phục. Và đỉnh cao là học nghe kim hoan của chính người Hoa truyền bá sâu rộng cho nhân dân cả nước để sản xuất và tự chủ. 

nghe kim hoan, nghề kim hoàn, nu trang, nữ trang, tho bac , lang nghe , dan toc viet nam, y thuc dan toc trong nghe kim hoan
Nghề kim hoàn và dân tộc Việt Nam

Phần 1: TỪ CỐNG NẠP LỄ VẬT ĐẾN KHÔNG KHUẤT PHỤC

Từ khi người Việt xuất hiện làm nên các nền văn minh Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo… thì nghề kim hoàn cũng ra đời và phát triển rực rỡ. Ở các triều đại phong kiến, nghe kim hoan cũng được xem trọng phát triển để tạo các đồ trang sức thẩm mỹ, vừa làm các dụng cụ làm đặc trưng dân tộc, bảo vệ lãnh thổ: Như văn minh Đông Sơn đúc Trống Đồng để sinh hoạt lễ hội và hiệu triệu nhân dân đánh giặc… Thời Lý Thái Tổ, vua đã hai lần phát chiếu chi hơn 400 lạng vàng đúc chuông chùa Hưng Thiên, rồi chùa Thăng Nghiêm và Tinh lâu Ngũ Thượng..

Tuy nhiên, từ khi dựng nước đến dành độc lập chủ quyền qua các triều đại thì nước Việt Nam luôn nhỏ bé hơn nước Phương Bắc. Vì vậy, hàng năm hay vài năm chúng ta vẫn phải cử người đi xứ sang cống sản vật, vàng ngọc cho các Triều đình Phương Bắc.

Vào thời Lê Lợi – Nguyễn Trãi kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Nghĩa quân đã đánh bao vây quân chiếm đóng, thắng đoàn quân cứu viện và chặt đầu tướng giặc Liễu Thăng ở trận Chi Lăng – Xương Giang. Quân Minh cứu viện rồi quân xâm lược đại bại, phải rút về nước.

Vua Lê Thái Tổ cho đúc “2 tượng người, 1 bằng vàng và một bằng bạc nặng 200 lạng (một thay cho vua, một đền mạng Liễu Thăng ). Lư hương bạc một cỗ, bình cắm hoa bạc 1 đối nặng 300 cân, cùng các sản vật địa phương.” Bởi Liễu Thăng là con vua nhà Minh. Lê Thái Tổ hành động như vậy để giữ lòng giao hảo.

Tuy nhiên một thời gian sau, nước Việt không có ý định phải cống nạp tượng vàng đền mạng cho kẻ xâm lược nên đã trì hoãn. Một thời gian sau, nhà Minh vẫn cho người đòi mạng Liễu Thăng. Lúc này, tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh rất mạnh nên không phục tùng nữa. Việc cống phẩm cùng tiến hành nhưng cho có lệ và không khuất phục.  

Trong nghiêm cứu về Nghề Kim Hoàn của tác giả Vũ Kim Lộc – Phạm Quốc Quân có đoạn ghi: “Về cống phẩm, vào thời kỳ này, nhà Minh lại yêu sách cống người bằng vàng. Năm 1595, vua Lê Thế Tông (1573 – 1599) sai Trịnh Vĩnh Lộc mang lên Lạng Sơn 2 người bằng vàng và bằng bạc cao một thước 2 tấc, nặng 10 cân nhưng không cúi mặt.”  

Việc cống nạp vàng bạc ít hơn, không cúi mặt và chỉ trao ở biên giới cho thấy ý thức dân tộc tự chủ của người Việt.

Chỉ khi nhà Mạc cướp ngôi, muốn lấy lòng nhà Minh làm chỗ dựa, họ phải cho người đêm cống phẩm nhiều hơn, đúc tượng người nặng cân hơn và cuối mặt.

Khi tập đoàn Lê – Trịnh đuổi được quân nhà Mạc lên Cao Bằng và một thời gian sau dẹp nốt thống nhất đất nước phương Bắc, việc cống nạp tượng vàng đền mạng Liễu Thăng cũng không được các Vua Lê, Chúa Trịnh chú ý thực hiện. Nhà Minh mấy lần cho người sang đòi nộp cống. Trạng Quỳnh đã lập kế khiến sứ thần phương Bắc đuối lý, không còn cớ đòi đền mạng Liễu Thăng nữa.

Chiếu theo lịch sử nghề Kim hoàn thì ở chúa Nguyễn đàng trong và các Triều đại tiếp theo, nước ta không bị ép cống lễ vật nữa mà có sự trao đổi công bằng và xuất khẩu sản vật. (Mời các bạn đón đọc ở bài viết tiếp theo.) 

 Nghề kim hoàn(NgheKimHoan.com)

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

Cách làm sạch nữ trang bạc và đồng

Làm sạch định kỳ bằng các loại đầu bóng hoặc làm theo các phương pháp truyền thống để sẽ giữ lại vẻ đẹp của những đồ trang sức này.

Các đồ nữ trang bằng bạc và đồng rất có sức lôi cuốn và hết sức sinh động. Cả hai loại kim loại này đều mềm nên dễ dàng tạo những chi tiết tinh xảo và phát sáng nhưng chúng lại dễ bị oxy hoá và bị xỉn.  
Để làm sạch mà không ảnh hưởng đến vẻ đẹp của đồ trang sức bạn nên làm theo các bước sau:


Bước 1:Rửa đồ trang sức bằng xà phòng và nước trước khi nhúng vào nước bóng. Những vết đen trên đồ trang sức này có thể do bị oxy hoá hoặc có thể là do vết bẩn lâu ngày bởi vậy trước khi nhúng vào nước bóng bạn càng làm sạch chúng càng tốt.

Bước 2:
Đổ một ít nước bóng vào một miếng vải mềm. Sau đó lau nhẹ lên bề mặt của trang sức vào để cho nó tự khô.

Bước 3: 

Với những vết oxy hoá hằn trên bề mặt phẳng bạn có thể lấy bàn chải lông mềm nhúng vào nước bóng rồi cọ sạch. Với những chỗ uốn cong hoặc khe rãnh trên trang sức bạn nên chà mạnh hơn để có thể làm sạch như mong muốn.

Lưu ý:
- Bạn nên dùng bàn chải, tăm để làm sạch những vết chạm khắc trên đồ trang sức trước khi lau nước bóng. Sau khi lau, có thể những vết chạm khắc đó vẫn bị đen, bạn hãy dùng bàn chải mềm chấm vào nước bóng rồi chà lên những chỗ này. Lúc nước bóng đã khô, bạn nên tiếp tục dùng bàn chải chà một lần nữa, chải thật kĩ đến khi nào bạn thấy ưng ý thì thôi.

- Do đồ trang sức cũ rất dễ gãy nên việc làm mới lại chúng rất phức tạp bởi nó dễ hỏng. Lớp bạc hoặc đồng tráng ngoài những đồ trang sức này đã bị mài mòn theo thời gian nên thay vì dùng nước bóng hoá học bạn nên dùng nước sốt cà chua đóng hộp để làm sạch. Nước sốt cà chua đóng hộp có tác dụng tẩy các vết oxy hoá như nước bóng hoá học nhưng ưu điểm là không mài mòn kim loại.

- Đừng quên lau cả mặt sau của đồ trang sức bởi da của bạn cũng gây ra quá trình oxy hoá.

Nghề Kim Hoàn

Lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn tại Hội quán Lệ Châu Thành Phố Hồ Chí Minh.

Cứ vào khoảng ngày 07/2 Âm lịch hàng năm, Chùa Lệ Châu lại từng bừng tổ chức Lễ Hội tưởng nhớ tổ nghề Kim hoàn cho hàng ngàn lượt người từ các địa phương, công ty sản xuất,  kinh doanh vàng bạc tham dự.  Hội quán (chùa) Lệ Châu vốn thuộc vùng Chợ Lớn, nay ngự trị tại số 586 Trần Hưng Đạo B, quận 5, TP Hồ Chí Minh.

Mốc son được ghi nhận vào đời vua Minh Mạng thứ 10, cụ Cao Đình Độ được nhà vua sắc phong làm Tổ nghề Kim Hoàn (nghề bạc). Tiếp đó, cụ Cao Đình Hương cũng được vua Thiệu trị thứ 08 sắc phong làm tổ nghề. Hai cụ được thờ phụng tại ngôi chùa thiêng Lệ Châu vùng Chợ Lớn để nhân dân, con cháu đồng môn tưởng nhớ thờ phụng. Sau này, chùa được nâng lên thành Hội quán để những hậu duệ làm nghề kim hoàn, buôn bán, kinh doanh vàng bạc quy tụ về hành lễ tưởng nhớ. 
nghe kim hoan, nghề kim hoàn, duc gia cong, đúc gia công, nu trang,nữ trang, tho bac, thợ bạc
Bảng sắc phong tổ sư kim hoàn

Ngày xưa, Hội Quán Lệ Châu là nơi hội họp quan trọng của những người thợ bạc vùng đất lục tỉnh (6 tỉnh Nam Bộ). Ngày nay, Lệ Châu hội quán đã trở thành nơi để thợ kim hoàn thể hiện lòng biết ơn đối với tổ nghề, là một trong những trung tâm tưởng nhớ kim hoàn tổ lớn nhất cả nước. Chính nơi đây họ còn tìm thấy một sức mạnh tinh thần để có thêm niềm tin đối với bản thân cũng như nghề nghiệp.

Ngày lễ hội chính thức vào ngày 07/2 âm lịch hàng năm. Tuy nhiên do có rất nhiều đoàn nghề, công ty bạc hành lễ nên tổ chức long trọng hơn thành 03 ngày (05, 06, 07 tháng 2) mới đáp ứng từ các nơi đổ về hành lễ. Trong những ngày diễn ra lễ hội, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm. Hội quán tiếp đón hàng ngàn lượt người tham dự.

Trong những ngày diễn ra lễ hội, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm.

Mở màn giỗ tổ là nghi thức cúng cầu quốc thái dân an, tuyên đọc sắc phong tổ sư thợ bạc Việt Nam của các vị vua Triều Nguyễn cho người tham dự và người trong nghề hiểu biết xuất xứ của tổ nghề. Lễ hội chính thức chia thành 03 “Viên” (Viên là cách gọi về mỗi phần lễ) theo nghi thức lễ giỗ truyền thống. Khi hành lễ, con cháu nghề Bạc tiến hành theo nghi thức truyền thống, dâng phẩm vật như trà, bánh, trái cây, heo quay… Những thành viên ban quản trị đền thờ trong bộ lễ phục áo dài khăn đóng, đứng trước Bài Vị tổ sư vái lạy. Các trưởng đoàn cũng mặc xiêm y truyền thống và chỉnh tề tế lạy với tấm lòng thành kính, biết ơn người đã có công truyền dạy nghề cho con cháu, giúp ích cho xã hội và mang lại cuộc sống ấm no cho gia đình họ.

Sau khi hành lễ chia lộc cháu con và tổ chức liên hoan ngay tại sân hành lễ.
nghe kim hoan, nghề kim hoàn, duc gia cong, đúc gia công, nu trang,nữ trang, tho bac, thợ bạc
Cúng tổ nghề kim hoàn

Lễ hội không chỉ là dịp tưởng nhớ các vị tổ sư ngành nghề mà còn truyền thức mạnh nghề nghiệp, thực hiện truyền thống “ôn cố tri tân” của của người Việt.
Nghề kim hoàn

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

LÀNG NGHỀ KIM HOÀN

Nằm bên bờ sông Tô Lịch, làng Định Công thượng còn gọi là Định Công kim hoàn (thuộc huyện Thanh Trì ngày nay).

 
Đây là làng chạm vàng bạc nổi tiếng. Ngoài làng Định Công, ngay giữa nội đô thành phố Hà Nội ngày nay trên phố Hàng Bạc cũng là nơi tập hợp các thợ kim hoàn vốn gốc Định Công. 

Ở nước ta, hai kinh đô Thăng Long và Huế là nơi có lịch sử truyền thống lâu đời mang tính tập trung của những người thợ làm vàng bạc nổi tiếng, những nghệ nhân đó đã được lớp hậu duệ tôn thờ mãi cho tới ngày nay. Ở kinh đô Thăng Long trước đây, làng Đình Công Thượng là cơ sở phục vụ vàng bạc sớm nhất cho kinh thành Thăng Long. 

Dân gian kể lại rằng, vào cuối thế kỷ VI, ở làng Đình Công có ba anh em họ Trần là Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền, do nghèo khổ dưới ách thống trị của nhà Đường làm cho anh em họ Trần phải tha phương cầu thực tới một nước láng giềng, rồi từ đó họ học được nghề kim hoàn. Khi trở về quê hương, họ truyền nghề cho dân làng. 

Sau này làng Đình Công có nghề truyền thống vàng bạc phục vụ thị trường ở Thăng Long. Từ thế kỷ XVIII, XIX khi nền kinh tế Thăng Long, Hà Nội ngày một phát triển cao, những nghệ nhân này mới đi dần lên Thăng Long hành nghề bằng chuyên môn của mình là các đồ nữ trang như hoa tai, xuyến, vòng... ở phố Hàng Bạc ngày nay. Thế kỷ XV, khi ngành luyện kim ở nước ta tiến bộ, nghề đúc bạc nén bước vào giai đoạn mới, thoát thai từ làng Trần Khê (huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng).


Qua những hoa văn, hoạ tiết trang trí trên các sản phẩm, ta cũng nhận rõ đức tính kiên trì, sự thông minh khéo léo, óc sáng tạo của những người thợ kim hoàn Việt Nam.

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013

Ông tổ nghề kim hoàn

Ông Cao Đình Độ sinh năm 1744 tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Xuất thân từ một gia đình nông dân, thuở thiếu thời ông rất ham học và được truyền thụ nền giáo dục của đạo Nho. Lớn lên ông làm nghề bịt đồng. Thế nhưng, niềm đam mê lớn trong ông là trở thành một người thợ kim hoàn xuất sắc. Ước mơ mãnh liệt ấy ngày đêm luôn thôi thúc, buộc ông lên đường “tầm sư học đạo”. Để học được nghề, ông phải cải trang người Hoa xin vào giúp việc cho một chủ tiệm vàng ở Thăng Long (Hà Nội). Bởi thời kỳ này chỉ có người Trung Hoa mới nắm được cách chế tác và độc quyền sản xuất, buôn bán vàng bạc.




Tính hiếu học và lòng trung thực của ông khiến chủ tiệm kim hoàn người Hoa cảm động, quý mến và truyền nghề cho ông. Mặc dù người Hoa có tiếng là giữ nghề, không truyền cho người ngoài, nhưng với tư chất thông minh, lanh lợi sẵn có, ông quan sát tìm hiểu và nắm bắt được biết quyết nghề kim hoàn của người Hoa. Với ý chí phải học cho thành tài, ông học cả cách chế tạo dụng cụ cần thiết của nghề chạm trổ vàng bạc và không từ chối bất cứ việc gì chủ sai bảo. Công sức của ông đã được đền đáp xứng đáng, tay nghề ông ngày càng thành thạo và đạt trình độ kỹ thuật tinh xảo đủ sức tranh tài với những thợ kim hoàn người Hoa khác tại đất Thăng Long thời bấy giờ.

Năm 1783, Ông Cao Đình Độ đưa vợ con vào làng Kế Môn, huyện Phong Điền, Thuận Hóa lập nghiệp và truyền nghề cho con. Thừa hưởng đức tính thông minh của cha, cong trai ông – Cao Đình Hương, tiếp thu nghề kim hoàn một cách nhanh chóng và trở thành một nghệ nhân thành thục trong nghề. Tại Thuận Hóa, Ông Cao Đình Độ có thu nhận để tử, truyền nghề cho họ. Làng Kế Môn trở thành làng nghề kim hoàn từ đó.

Dưới thời vua Quang Trung, danh tiếng Ông Cao Đình Độ được lan truyền đến triều đình. Năm 1790, vua Quang Trung triệu hai cha con ông cùng một số thợ bạc ở làng Kế Môn vào triều để lập cơ vệ Ngân Tượng, nơi chuyên nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ vàng bạc và đồ trang sức cung điện. Trước công đức và những đóng góp lớn lao đó, ông được triều đình phong chức Lãnh Binh, cùng gia đình sống tại làng Cao Hậu, huyện Hương Trà.

Đến khi Nguyễn Ánh lập nên triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, tất cả mọi thành tựu văn hóa dưới triều Quang Trung điều bị phá hủy, chỉ duy nhất ngành Ngân Tượng được bảo tồn. Hai cha con ông Cao Đình Độ và Cao Đình Hương cũng như nhóm thợ làng Kế Môn vẫn được vua Gia Long trọng dụng, cấp bổng lộc và giữ nguyên tước cũ để tiếp tục nghề kim hoàn trong cung điện.

Năm 1810, Ông Cao Đình Độ qua đời, hưởng thọ 66 tuổi. Mặc dù còn được kế tục sự nghiệp của cha trong triều với chức quan Lãnh Binh, nhưng bằng cách nhìn nhạy bén của người trong nghề, Cao Đình Hương nhìn thấy hoài bão của cha mình sẽ bị mai một theo thời gian, không những thế, nghề kim hoàn sẽ bị thất truyền nếu ông chỉ quanh quẩn phục vụ trong cung vua. Cao Đình Hương quyết định từ quan về nhà để tìm người nối nghiệp gia đình. Nghề kim hoàn ở miền Trung từ đó mà được nhân rộng.

Cảm phục tài nghệ và danh tiếng Cao Đình Hương, quan Thượng thư bộ Lại lúc bấy giờ là Trần Minh, cùng vợ là Huỳnh Thị Ngoc (dưới thời Gia Long) mời ông về dinh phủ dạy nghề kim hoàn cho ba người con trai: Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền và ba người cháu: Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật. Ròng rã suốt 11 năm truyền dạy cho các học trò, năm 1821, Ông Cao Đình Hương qua đời. Trước khi mất, tâm huyết sau cùng của ông là mong muốn học trò của mình đem nghề kim hoàn truyền bá rộng rãi trong dân gian.

Theo di chúc của thầy, ba anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền ngược ra Thăng Long (Hà Nội) mở lò thu nhận đệ tử. Riêng anh em họ Huỳnh theo dòng người lập nghiệp xuôi vào phương Nam, đến Phan Thiết thì dừng chân, vừa thu nhận đệ tử truyền nghề, vừa để tưởng nhớ một người anh em của mình đã qua đời tại đây. Nghề kim hoàn ở Phan Thiết được khai sinh từ đó.

Ở miền Nam, nghề kim hoàn lúc ấy vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Theo ước nguyện của thầy, từ Thăng Long, anh em họ Trần bắt đầu cuộc hành trình xuôi vào Phương Nam. “Đất lành chim đậu”, điểm dừng chân của họ là Gia Định - Chợ Lớn, nơi có thương cảng sầm uất, hội tụ thương hồ từ các tỉnh lân cận, kể từ Cao Miên (Campuchia), Xiêm La (Thái Lan), đến buôn bán náo nhiệt. Ba ông chọn địa điểm cách Chợ Lớn khoảng một dặm (cảng Bình Đông ngày nay) mở lò thợ bạc tại đây lại có điều kiện phát triển rộng khắp.

Sau khi truyền nghề cho 36 lò thợ bạc ở Chợ Lớn, anh em họ Trần lại tiếp tục hành trình đến các tỉnh miền Tây, ngược qua Campuchia, Thái Lan… rồi qua đời ở đâu không ai biết. Nếu như tiền tổ họ Cao có công khai sáng nghề Kim Hoàn, thì họ Trần, Huỳnh chính là những người có công phổ biến nghề Kim Hoàn trên khắp đất nước, suốt từ Bắc vào Nam. Họ được người trong nghề tôn vinh là tổ sư đời thứ Hai của ngành kim hoàn Việt Nam.


Công lao của các tổ sư kim hoàn không chỉ được người đời sau luôn ghi nhớ, mà còn nhận được nhiều sắc phong của triều đình, đặc biệt dưới triều Nguyễn. Hiện nay, tại nhà thờ tổ nghề kim hoàn ở Huế và Lệ Châu hội quán (Thành Phố Hồ Chí Minh) còn lưu giữ nhiều bản sắc phong của các vua nhà Nguyễn. Đó là hàm cấp bậc “Tiến sĩ khai hóa Kim Ngân” với phẩm tước đại triều “Dực Bảo Trung Hưng”, chức Lãnh Binh của vua Gia Long cho ông Cao Đình Độ. Sau khi mất ông còn được truy phong thêm tước hiệu “Đệ Nhất tổ sư”. Đến thời vua Minh Mạng, hai cha con Cao Đình Độ, Cao Đình Hương được sắc phong “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò Bổn Xứ - khai hóa kim ngân Thế Tổ Cao Đình Độ tọa thần vị - Cao Đình Hương linh thần vị”, phong tước hiệu “Đệ nhị tổ sư” cho ông Cao Đình Hương, được ban đất xây lăng như các quan đại thần. Đời vua Khải Định năm thứ 9 và Bảo Đại năm thứ 13, hai ông được sắc phong “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần” cho người có công khai sáng ngành kim hoàn Việt Nam.

Lăng mộ hai vị Tổ sư đời thứ nhất đều tọa lạc tại phường Trường An về phía Nam thành phố Huế, trong đó lăng mộ đệ Nhất Tổ sư Cao Đình Độ xây dựng năm 1810, lăng mộ đệ Nhị Tổ sư Cao Đình Hương xây dựng năm 1821, theo kiến trúc văn hóa đặc trưng của triều Nguyễn. Đền thờ hai ông được đặt tại phường Phú Cát (Huế). Cả khu mộ và nhà thờ tổ nghề kim hoàn đã được Bộ Văn Hóa Thông tin cấp bằng Di tích Lịch sử Văn hóa.

Để tưởng nhớ công lao to lớn của hai vị Tổ nghiệp, hằng năm, các thợ kim hoàn miền Trung (Huế) tổ chức lễ giỗ tổ Ông Cao Đình Độ vào ngày 27-2 (âm lịch). Tại làng Định Công (Hà Nội), giỗ tổ sư họ Trần, Phan Thiết giỗ tổ sư họ Huỳnh.

Qua những biến chuyển của thời đại, nghề kim hoàn không bị mai một mà còn được lưu giữ, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù ngày nay, vàng bạc được sản xuất chủ yếu trên dây chuyền hiện đại, nhưng tổ thờ vẫn được coi trọng và tôn thờ.

Nghề Kim Hoàn

NHỮNG ĐIỀU MAY MẮN CUỐI TUẦN

Hôm nay mình và một số anh trong Ban chấp hành Hội Mỹ Nghệ Kim Hoàn Sài Gòn – SJA và Trường dạy nghề kim hoàn của Hội đi giao lưu và cúng chùa thờ Tổ Nghề Kim Hoàn tỉnh Tây Ninh.
Đây là lần đầu tiên mình đến đây và cũng là nhờ bạn thân báo tin và đăng ký cho đi theo dùm. Nào ngờ lúc làm lễ cúng mình được phát áo dài khăn đống trông rất trịnh trọng và được xem như thay mặt Hội ở Sài Gòn cúng chùa Tổ Tây Ninh.
NgheKimHoan
Vì mới quay lại với Tổ Nghề Kim Hoàn nên mình xem như đây là điều may mắn rất quan trọng các bạn ạ. Và thật sự mình rất xúc động khi làm lễ dâng hương đèn lên bàn thờ Tổ Nghề. Mong rằng điều may mắn này củng cố thêm niềm tin vào con đường mình đang đi các bạn ạ. Chúc các bạn cuối tuần cũng vui vẽ và may mắn.
NgheKimHoan - GioTo
Nguyễn Chí Cường
Nghề Kim Hoàn

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Vàng nội bất động dù vàng ngoại đang nóng

Giá vàng trong nước dường như vẫn bất động dù giá vàng thế giới đang nóng lên theo tình hình tài chính của Síp.

Vào lúc 8h45 sáng nay, giá vàng tại công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC rất ít thay đổi so với giá cuối ngày hôm qua và vẫn giao dịch dưới quanh 44 triệu đồng/lượng. Giá vàng SJC Hà Nội: Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 44,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng SJC Hồ Chí Minh: Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 44 triệu đồng/lượng.

Giá vàng tại Công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận cũng thay đổi chậm chạp. Giá vàng SJC: Mua vào 43,90 triệu đồng/lượng; bán ra 44,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng Phượng hoàng PNJ-DAB: Mua vào 43,63 triệu đồng/lượng; bán ra 43,93 triệu đồng/lượng.

Công ty vàng bạc đá quý Doji điều chỉnh giá vàng giảm rất nhẹ. Giá vàng Doji Hà Nội (bán lẻ): Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 43,99 triệu đồng/lượng. Giá vàng Doji Tp Hồ Chí Minh (bán lẻ): Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 43,99 triệu đồng/lượng.

Giá vàng tại công ty vàng bạc đá quý SBJ mua vào ở mức thấp nhất. Giá vàng SJC giao dịch ở mức: Mua vào - bán ra (43,80 triệu đồng/lượng – 44 triệu đồng/lượng). Giá vàng SBJ cũng giao dịch ở mức: Mua vào 43,80 triệu đồng/lượng - bán ra 44 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước ít biến động dù giá vàng thế giới đảo chiều, tăng đáng kể. Đêm qua, tại thị trường Mỹ, giá vàng giao tháng tư tăng 7,1 Usd/ounce lên 1.614,60 Usd/ounce, giá vàng giao ngay tăng 8,5 USD/ounce lên 1.615,75 USD/ounce.

Giá vàng tăng khi khủng hoảng tài chính tại Síp vẫn chưa có tín hiệu lắng dịu dù nước này không thông qua chính sách đánh thuế tiền gửi tiết kiệm. Hiện tại, nhiều ngân hàng nước này vẫn đóng cửa cho tới tận tuần sau.

Tình hình đang trở nên khá rắc rối khi Nga muốn bắt tay vào giải quyết nhưng Liên minh châu Âu và Quỹ tiền tệ quốc tế lại không muốn như vậy. Hiện tại, nhiều người trong giới siêu giàu tại Nga có lượng tiền rất lớn tại nhiều ngân hàng Síp.

Tới phiên giao dịch sáng nay, giá vàng đảo chiều giảm rất nhẹ. Lúc này tại thị trường châu Á, giá vàng đang giao dịch ở mức 1.614,1 USD/ounce, giảm 0,7 USD/ounce. Trong phiên có lúc giá vàng gần giảm xuống 1.605 USD/ounce.

Giá vàng giảm dù đồng USD tiếp tục suy yếu. USD giảm 0.0012(0.10%) so với EUR, giảm 0.0018(0.12%) so với GBP, giảm 0.0014(0.12%) so với CAD và giảm 0.0003(0.03%) so với CHF. Trong rổ 6 đồng tiền mạnh, USD chỉ tăng so với JPY và AUD.

Trong khi đó, giá dầu lại hạ nhiệt. Giá dầu thô giao dịch ở mức 92,64 USD/thùng, giảm 0,14%, giá dầu brent giao dịch ở mức 107,47 USD/thùng, tăng 0,12%.

Nghề Kim Hoàn

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

7 biện pháp quản lý thị trường vàng


Cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước cũng đã chính thức trình Chính phủ dự thảo nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, gồm 7 chương 24 điều.

Các quy định của dự thảo nghị định này được xây dựng theo hướng tổ chức lại thị trường vàng thông qua việc Ngân hàng Nhà nước quản lý chặt chẽ và can thiệp mạnh vào thị trường vàng nhằm ngăn ngừa hoạt động đầu cơ vàng, hạn chế kinh doanh vàng miếng nhưng vẫn đảm bảo quyền tích trữ vàng, mua bán vàng của người dân.

Dự thảo nghị định xác định bảy biện pháp để tăng cường quản lý thị trường vàng sau khi được ban hành và đi vào đời sống.

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất vàng miếng. Do hoạt động sản xuất vàng miếng có tác động rất lớn tới nguồn cung vàng miếng trong nước, nên để bình ổn thị trường vàng, hoạt động sản xuất vàng miếng cần được quản lý, kiểm soát chặt chẽ.

Dự kiến với các điều kiện đưa ra trong nghị định, khi ban hành số lượng doanh nghiệp được phép sản xuất vàng miếng sẽ giảm xuống đáng kể từ con số 8 tổ chức tín dụng và doanh nghiệp hiện nay. Đồng thời, dự thảo nghị định cũng quy định rõ việc sản xuất vàng miếng được thực hiện theo hạn mức do Ngân hàng Nhà nước cấp từng lần.

Thứ hai, dự thảo nghị định thu hẹp đối tượng được phép kinh doanh mua bán vàng miếng, không khuyến khích hoạt động mua bán vàng miếng.

Khắc phục bất cập trong quản lý hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng hiện nay (hoạt động mua bán vàng miếng được thực hiện khá tự do tại hầu hết 12.000 doanh nghiệp kinh doanh vàng, gây khó khăn cho công tác quản lý và tăng nguy cơ vàng hóa”), dự thảo bổ sung quy định coi hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng là hoạt động kinh doanh có điều kiện, có cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.

“Với các điều kiện chặt chẽ, dự kiến số lượng doanh nghiệp được phép kinh doanh mua bán vàng miếng sẽ thu hẹp đáng kể từ trên 10 ngàn doanh nghiệp như hiện nay xuống chỉ còn một số doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có khả năng tài chính, kinh nghiệm, uy tín trong lĩnh vực kinh doanh vàng được phép tiếp tục thực hiện mua bán vàng miếng”, Ngân hàng Nhà nước cho biết.

Như vậy, việc kinh doanh vàng miếng không có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước và hoạt động mua bán vàng miếng trên thị trường tự do là hoạt động bất hợp pháp và sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của Nghị định 95/2011/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành.

7 biện pháp quản lý thị trường vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, ngan hang, gia vang hom nay, vang mieng, tai chinh, bao
Dự kiến với các điều kiện đưa ra, khi ban hành số lượng doanh nghiệp được phép sản xuất vàng miếng sẽ giảm xuống đáng kể từ con số 8 tổ chức tín dụng và doanh nghiệp hiện nay – Ảnh: Reuters.

Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước quản lý chặt chẽ hoạt động xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu, là cơ quan tổ chức và/hoặc cấp phép hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu. Quy định này cũng nhằm tạo điều kiện để quản lý, kiểm soát lượng vàng nguyên liệu xuất khẩu, nhập khẩu cũng như điều tiết cung – cầu trên thị trường, hạn chế tình trạng xuất nhập lậu vàng, đầu cơ, lũng đoạn thị trường.

Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý chặt chẽ hơn hoạt động sản xuất, mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ. Theo quy định tại dự thảo, hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ phải được cơ quan này cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.

Thứ năm, quản lý chặt chẽ các hoạt động kinh doanh vàng khác. Dự thảo nghị định quy định các hoạt động kinh doanh vàng khác, ngoài hoạt động được quy định trong dự thảo sẽ chỉ được phép thực hiện sau khi Thủ tướng Chính phủ cho phép và được NHNN cấp phép.

Với hoạt động kinh vàng trên tài khoản, hoạt động phái sinh về vàng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt tạo điều kiện cho hoạt động đầu cơ, gây bất ổn thị trường vàng, ngoại hối, ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ và quyền lợi của người dân, nên việc cho phép thực hiện các hoạt động này phải tùy thuộc vào điều kiện thực tế trong từng thời kỳ.

Thứ sáu, dự thảo có những quy định tạo cơ chế cho phép Ngân hàng Nhà nước thực hiện các biện pháp can thiệp bình ổn thị trường vàng khi có diễn biến bất thường qua các hoạt động: cấp phép sản xuất vàng miếng; tổ chức mua bán vàng miếng trên thị trường trong nước; tổ chức xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu; tổ chức huy động vàng.

Thứ bảy, nhà nước thực hiện điều tiết thị trường vàng thông qua chính sách thuế. Dự thảo nghị định quy định Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu vàng, thuế trị giá gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập đối với hoạt động kinh doanh vàng phù hợp trong từng thời kỳ.

Nghề Kim Hoàn