Từ
xa xưa, dân tộc ta luôn bị phong kiến phương Bắc đô hộ, xâm lược. Chúng
ta bị cướp, bị buộc cống phẩm nhiều sản vật quý cho các Triều đại
Phương Bắc. Trong đó, các cống phẩm chủ yếu là các vật phẩm vàng, bạc từ
nghe kim hoan.
Theo tiến trình lịch sử nghề kim hoàn
Việt Nam đã nói lên được ý thức dân tộc, chủ quyền của nước ta trong
từng thời kỳ lịch sử. Dân ta từ việc phải cống nộp tài nguyên đến không
khuất phục. Và đỉnh cao là học nghe kim hoan của chính người Hoa truyền
bá sâu rộng cho nhân dân cả nước để sản xuất và tự chủ.
Phần 1: TỪ CỐNG NẠP LỄ VẬT ĐẾN KHÔNG KHUẤT PHỤC
Từ
khi người Việt xuất hiện làm nên các nền văn minh Đông Sơn, Sa Huỳnh,
Óc Eo… thì nghề kim hoàn cũng ra đời và phát triển rực rỡ. Ở các triều
đại phong kiến, nghe kim hoan cũng được xem trọng phát triển để tạo các
đồ trang sức thẩm mỹ, vừa làm các dụng cụ làm đặc trưng dân tộc, bảo vệ
lãnh thổ: Như văn minh Đông Sơn đúc Trống Đồng để sinh hoạt lễ hội và
hiệu triệu nhân dân đánh giặc… Thời Lý Thái Tổ, vua đã hai lần phát
chiếu chi hơn 400 lạng vàng đúc chuông chùa Hưng Thiên, rồi chùa Thăng
Nghiêm và Tinh lâu Ngũ Thượng..
Tuy
nhiên, từ khi dựng nước đến dành độc lập chủ quyền qua các triều đại
thì nước Việt Nam luôn nhỏ bé hơn nước Phương Bắc. Vì vậy, hàng năm hay
vài năm chúng ta vẫn phải cử người đi xứ sang cống sản vật, vàng ngọc
cho các Triều đình Phương Bắc.
Vào
thời Lê Lợi – Nguyễn Trãi kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Nghĩa
quân đã đánh bao vây quân chiếm đóng, thắng đoàn quân cứu viện và chặt
đầu tướng giặc Liễu Thăng ở trận Chi Lăng – Xương Giang. Quân Minh cứu
viện rồi quân xâm lược đại bại, phải rút về nước.
Vua Lê Thái Tổ cho đúc “2
tượng người, 1 bằng vàng và một bằng bạc nặng 200 lạng (một thay cho
vua, một đền mạng Liễu Thăng ). Lư hương bạc một cỗ, bình cắm hoa bạc 1
đối nặng 300 cân, cùng các sản vật địa phương.” Bởi Liễu Thăng là con vua nhà Minh. Lê Thái Tổ hành động như vậy để giữ lòng giao hảo.
Tuy
nhiên một thời gian sau, nước Việt không có ý định phải cống nạp tượng
vàng đền mạng cho kẻ xâm lược nên đã trì hoãn. Một thời gian sau, nhà
Minh vẫn cho người đòi mạng Liễu Thăng. Lúc này, tập đoàn phong kiến Lê –
Trịnh rất mạnh nên không phục tùng nữa. Việc cống phẩm cùng tiến hành
nhưng cho có lệ và không khuất phục.
Trong nghiêm cứu về Nghề Kim Hoàn của tác giả Vũ Kim Lộc – Phạm Quốc Quân có đoạn ghi: “Về
cống phẩm, vào thời kỳ này, nhà Minh lại yêu sách cống người bằng vàng.
Năm 1595, vua Lê Thế Tông (1573 – 1599) sai Trịnh Vĩnh Lộc mang lên
Lạng Sơn 2 người bằng vàng và bằng bạc cao một thước 2 tấc, nặng 10 cân
nhưng không cúi mặt.”
Việc cống nạp vàng bạc ít hơn, không cúi mặt và chỉ trao ở biên giới cho thấy ý thức dân tộc tự chủ của người Việt.
Chỉ
khi nhà Mạc cướp ngôi, muốn lấy lòng nhà Minh làm chỗ dựa, họ phải cho
người đêm cống phẩm nhiều hơn, đúc tượng người nặng cân hơn và cuối mặt.
Khi
tập đoàn Lê – Trịnh đuổi được quân nhà Mạc lên Cao Bằng và một thời
gian sau dẹp nốt thống nhất đất nước phương Bắc, việc cống nạp tượng
vàng đền mạng Liễu Thăng cũng không được các Vua Lê, Chúa Trịnh chú ý
thực hiện. Nhà Minh mấy lần cho người sang đòi nộp cống. Trạng Quỳnh đã
lập kế khiến sứ thần phương Bắc đuối lý, không còn cớ đòi đền mạng Liễu
Thăng nữa.
Chiếu
theo lịch sử nghề Kim hoàn thì ở chúa Nguyễn đàng trong và các Triều
đại tiếp theo, nước ta không bị ép cống lễ vật nữa mà có sự trao đổi
công bằng và xuất khẩu sản vật. (Mời các bạn đón đọc ở bài viết tiếp
theo.)
Nghề kim hoàn(NgheKimHoan.com)
Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013
Ý THỨC DÂN TỘC TRONG NGHỀ KIM HOÀN - PHẦN 1
Nhãn:
dan toc Viet Nam,
kim hoan,
kim hoàn,
nghe kim hoan,
nghề kim hoàn,
nu trang,
nữ trang,
tho bac
Google Account Video Purchases
476 Huỳnh Văn Bánh, 14, Phú Nhuận, Ho Chi Minh City, Vietnam
Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013
Cách làm sạch nữ trang bạc và đồng
Làm sạch định kỳ bằng các loại đầu bóng hoặc làm theo các phương pháp truyền thống để sẽ giữ lại vẻ đẹp của những đồ trang sức này.
Các
đồ nữ trang bằng bạc và đồng rất có sức lôi cuốn và hết sức sinh động.
Cả hai loại kim loại này đều mềm nên dễ dàng tạo những chi tiết tinh xảo
và phát sáng nhưng chúng lại dễ bị oxy hoá và bị xỉn.
Để làm sạch mà không ảnh hưởng đến vẻ đẹp của đồ trang sức bạn nên làm theo các bước sau:
Bước 1:Rửa
đồ trang sức bằng xà phòng và nước trước khi nhúng vào nước bóng. Những
vết đen trên đồ trang sức này có thể do bị oxy hoá hoặc có thể là do
vết bẩn lâu ngày bởi vậy trước khi nhúng vào nước bóng bạn càng làm sạch
chúng càng tốt.
Bước 2:
Đổ một ít nước bóng vào một miếng vải mềm. Sau đó lau nhẹ lên bề mặt của trang sức vào để cho nó tự khô.
Bước 3:
Với những vết oxy hoá hằn trên bề mặt phẳng bạn có thể lấy bàn chải lông mềm nhúng vào nước bóng rồi cọ sạch. Với những chỗ uốn cong hoặc khe rãnh trên trang sức bạn nên chà mạnh hơn để có thể làm sạch như mong muốn.
Lưu ý:
- Bạn nên dùng bàn chải, tăm để làm sạch những vết chạm khắc trên đồ trang sức trước khi lau nước bóng. Sau khi lau, có thể những vết chạm khắc đó vẫn bị đen, bạn hãy dùng bàn chải mềm chấm vào nước bóng rồi chà lên những chỗ này. Lúc nước bóng đã khô, bạn nên tiếp tục dùng bàn chải chà một lần nữa, chải thật kĩ đến khi nào bạn thấy ưng ý thì thôi.
- Do đồ trang sức cũ rất dễ gãy nên việc làm mới lại chúng rất phức tạp bởi nó dễ hỏng. Lớp bạc hoặc đồng tráng ngoài những đồ trang sức này đã bị mài mòn theo thời gian nên thay vì dùng nước bóng hoá học bạn nên dùng nước sốt cà chua đóng hộp để làm sạch. Nước sốt cà chua đóng hộp có tác dụng tẩy các vết oxy hoá như nước bóng hoá học nhưng ưu điểm là không mài mòn kim loại.
- Đừng quên lau cả mặt sau của đồ trang sức bởi da của bạn cũng gây ra quá trình oxy hoá.
Nghề Kim Hoàn
Bước 2:
Đổ một ít nước bóng vào một miếng vải mềm. Sau đó lau nhẹ lên bề mặt của trang sức vào để cho nó tự khô.
Bước 3:
Với những vết oxy hoá hằn trên bề mặt phẳng bạn có thể lấy bàn chải lông mềm nhúng vào nước bóng rồi cọ sạch. Với những chỗ uốn cong hoặc khe rãnh trên trang sức bạn nên chà mạnh hơn để có thể làm sạch như mong muốn.
Lưu ý:
- Bạn nên dùng bàn chải, tăm để làm sạch những vết chạm khắc trên đồ trang sức trước khi lau nước bóng. Sau khi lau, có thể những vết chạm khắc đó vẫn bị đen, bạn hãy dùng bàn chải mềm chấm vào nước bóng rồi chà lên những chỗ này. Lúc nước bóng đã khô, bạn nên tiếp tục dùng bàn chải chà một lần nữa, chải thật kĩ đến khi nào bạn thấy ưng ý thì thôi.
- Do đồ trang sức cũ rất dễ gãy nên việc làm mới lại chúng rất phức tạp bởi nó dễ hỏng. Lớp bạc hoặc đồng tráng ngoài những đồ trang sức này đã bị mài mòn theo thời gian nên thay vì dùng nước bóng hoá học bạn nên dùng nước sốt cà chua đóng hộp để làm sạch. Nước sốt cà chua đóng hộp có tác dụng tẩy các vết oxy hoá như nước bóng hoá học nhưng ưu điểm là không mài mòn kim loại.
- Đừng quên lau cả mặt sau của đồ trang sức bởi da của bạn cũng gây ra quá trình oxy hoá.
Nghề Kim Hoàn
Lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn tại Hội quán Lệ Châu Thành Phố Hồ Chí Minh.
Cứ vào khoảng ngày 07/2 Âm lịch hàng năm, Chùa Lệ Châu lại từng bừng tổ chức Lễ Hội tưởng nhớ tổ nghề Kim hoàn
cho hàng ngàn lượt người từ các địa phương, công ty sản xuất, kinh
doanh vàng bạc tham dự. Hội quán (chùa) Lệ Châu vốn thuộc vùng Chợ Lớn,
nay ngự trị tại số 586 Trần Hưng Đạo B, quận 5, TP Hồ Chí Minh.
Mốc son được ghi nhận vào đời vua Minh Mạng thứ 10, cụ Cao Đình Độ được nhà vua sắc phong làm Tổ nghề Kim Hoàn (nghề bạc). Tiếp đó, cụ Cao Đình Hương cũng được vua Thiệu trị thứ 08 sắc phong làm tổ nghề. Hai cụ được thờ phụng tại ngôi chùa thiêng Lệ Châu vùng Chợ Lớn để nhân dân, con cháu đồng môn tưởng nhớ thờ phụng. Sau này, chùa được nâng lên thành Hội quán để những hậu duệ làm nghề kim hoàn, buôn bán, kinh doanh vàng bạc quy tụ về hành lễ tưởng nhớ.
Ngày xưa, Hội Quán Lệ Châu là nơi hội họp quan trọng của những người thợ bạc vùng đất lục tỉnh (6 tỉnh Nam Bộ). Ngày nay, Lệ Châu hội quán đã trở thành nơi để thợ kim hoàn thể hiện lòng biết ơn đối với tổ nghề, là một trong những trung tâm tưởng nhớ kim hoàn tổ lớn nhất cả nước. Chính nơi đây họ còn tìm thấy một sức mạnh tinh thần để có thêm niềm tin đối với bản thân cũng như nghề nghiệp.
Ngày lễ hội chính thức vào ngày 07/2 âm lịch hàng năm. Tuy nhiên do có rất nhiều đoàn nghề, công ty bạc hành lễ nên tổ chức long trọng hơn thành 03 ngày (05, 06, 07 tháng 2) mới đáp ứng từ các nơi đổ về hành lễ. Trong những ngày diễn ra lễ hội, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm. Hội quán tiếp đón hàng ngàn lượt người tham dự.
Trong những ngày diễn ra lễ hội, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm.
Mở màn giỗ tổ là nghi thức cúng cầu quốc thái dân an, tuyên đọc sắc phong tổ sư thợ bạc Việt Nam của các vị vua Triều Nguyễn cho người tham dự và người trong nghề hiểu biết xuất xứ của tổ nghề. Lễ hội chính thức chia thành 03 “Viên” (Viên là cách gọi về mỗi phần lễ) theo nghi thức lễ giỗ truyền thống. Khi hành lễ, con cháu nghề Bạc tiến hành theo nghi thức truyền thống, dâng phẩm vật như trà, bánh, trái cây, heo quay… Những thành viên ban quản trị đền thờ trong bộ lễ phục áo dài khăn đóng, đứng trước Bài Vị tổ sư vái lạy. Các trưởng đoàn cũng mặc xiêm y truyền thống và chỉnh tề tế lạy với tấm lòng thành kính, biết ơn người đã có công truyền dạy nghề cho con cháu, giúp ích cho xã hội và mang lại cuộc sống ấm no cho gia đình họ.
Sau khi hành lễ chia lộc cháu con và tổ chức liên hoan ngay tại sân hành lễ.
Lễ hội không chỉ là dịp tưởng nhớ các vị tổ sư ngành nghề mà còn truyền thức mạnh nghề nghiệp, thực hiện truyền thống “ôn cố tri tân” của của người Việt.
Nghề kim hoàn
Mốc son được ghi nhận vào đời vua Minh Mạng thứ 10, cụ Cao Đình Độ được nhà vua sắc phong làm Tổ nghề Kim Hoàn (nghề bạc). Tiếp đó, cụ Cao Đình Hương cũng được vua Thiệu trị thứ 08 sắc phong làm tổ nghề. Hai cụ được thờ phụng tại ngôi chùa thiêng Lệ Châu vùng Chợ Lớn để nhân dân, con cháu đồng môn tưởng nhớ thờ phụng. Sau này, chùa được nâng lên thành Hội quán để những hậu duệ làm nghề kim hoàn, buôn bán, kinh doanh vàng bạc quy tụ về hành lễ tưởng nhớ.
Ngày xưa, Hội Quán Lệ Châu là nơi hội họp quan trọng của những người thợ bạc vùng đất lục tỉnh (6 tỉnh Nam Bộ). Ngày nay, Lệ Châu hội quán đã trở thành nơi để thợ kim hoàn thể hiện lòng biết ơn đối với tổ nghề, là một trong những trung tâm tưởng nhớ kim hoàn tổ lớn nhất cả nước. Chính nơi đây họ còn tìm thấy một sức mạnh tinh thần để có thêm niềm tin đối với bản thân cũng như nghề nghiệp.
Ngày lễ hội chính thức vào ngày 07/2 âm lịch hàng năm. Tuy nhiên do có rất nhiều đoàn nghề, công ty bạc hành lễ nên tổ chức long trọng hơn thành 03 ngày (05, 06, 07 tháng 2) mới đáp ứng từ các nơi đổ về hành lễ. Trong những ngày diễn ra lễ hội, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm. Hội quán tiếp đón hàng ngàn lượt người tham dự.
Trong những ngày diễn ra lễ hội, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm.
Mở màn giỗ tổ là nghi thức cúng cầu quốc thái dân an, tuyên đọc sắc phong tổ sư thợ bạc Việt Nam của các vị vua Triều Nguyễn cho người tham dự và người trong nghề hiểu biết xuất xứ của tổ nghề. Lễ hội chính thức chia thành 03 “Viên” (Viên là cách gọi về mỗi phần lễ) theo nghi thức lễ giỗ truyền thống. Khi hành lễ, con cháu nghề Bạc tiến hành theo nghi thức truyền thống, dâng phẩm vật như trà, bánh, trái cây, heo quay… Những thành viên ban quản trị đền thờ trong bộ lễ phục áo dài khăn đóng, đứng trước Bài Vị tổ sư vái lạy. Các trưởng đoàn cũng mặc xiêm y truyền thống và chỉnh tề tế lạy với tấm lòng thành kính, biết ơn người đã có công truyền dạy nghề cho con cháu, giúp ích cho xã hội và mang lại cuộc sống ấm no cho gia đình họ.
Sau khi hành lễ chia lộc cháu con và tổ chức liên hoan ngay tại sân hành lễ.
Lễ hội không chỉ là dịp tưởng nhớ các vị tổ sư ngành nghề mà còn truyền thức mạnh nghề nghiệp, thực hiện truyền thống “ôn cố tri tân” của của người Việt.
Nghề kim hoàn
Google Account Video Purchases
476 Huỳnh Văn Bánh, 14, Phú Nhuận, Ho Chi Minh City, Vietnam
Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013
LÀNG NGHỀ KIM HOÀN
Nằm bên bờ sông Tô Lịch, làng Định Công thượng còn gọi là Định Công kim hoàn (thuộc huyện Thanh Trì ngày nay).
Đây
là làng chạm vàng bạc nổi tiếng. Ngoài làng Định Công, ngay giữa nội đô
thành phố Hà Nội ngày nay trên phố Hàng Bạc cũng là nơi tập hợp các thợ
kim hoàn vốn gốc Định Công.
Ở
nước ta, hai kinh đô Thăng Long và Huế là nơi có lịch sử truyền thống
lâu đời mang tính tập trung của những người thợ làm vàng bạc nổi tiếng,
những nghệ nhân đó đã được lớp hậu duệ tôn thờ mãi cho tới ngày nay. Ở
kinh đô Thăng Long trước đây, làng Đình Công Thượng là cơ sở phục vụ
vàng bạc sớm nhất cho kinh thành Thăng Long.
Dân gian kể lại rằng, vào
cuối thế kỷ VI, ở làng Đình Công có ba anh em họ Trần là Trần Hòa, Trần
Điện và Trần Điền, do nghèo khổ dưới ách thống trị của nhà Đường làm cho
anh em họ Trần phải tha phương cầu thực tới một nước láng giềng, rồi từ
đó họ học được nghề kim hoàn. Khi trở về quê hương, họ truyền nghề cho
dân làng.
Sau
này làng Đình Công có nghề truyền thống vàng bạc phục vụ thị trường ở
Thăng Long. Từ thế kỷ XVIII, XIX khi nền kinh tế Thăng Long, Hà Nội ngày
một phát triển cao, những nghệ nhân này mới đi dần lên Thăng Long hành
nghề bằng chuyên môn của mình là các đồ nữ trang như hoa tai, xuyến,
vòng... ở phố Hàng Bạc ngày nay. Thế kỷ XV, khi ngành luyện kim ở nước
ta tiến bộ, nghề đúc bạc nén bước vào giai đoạn mới, thoát thai từ làng
Trần Khê (huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng).
Qua
những hoa văn, hoạ tiết trang trí trên các sản phẩm, ta cũng nhận rõ
đức tính kiên trì, sự thông minh khéo léo, óc sáng tạo của những người
thợ kim hoàn Việt Nam.
Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013
Ông tổ nghề kim hoàn
Ông Cao Đình Độ sinh năm 1744 tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh
Thanh Hóa. Xuất thân từ một gia đình nông dân, thuở thiếu thời ông rất
ham học và được truyền thụ nền giáo dục của đạo Nho. Lớn lên ông làm
nghề bịt đồng. Thế nhưng, niềm đam mê lớn trong ông là trở thành một
người thợ kim hoàn xuất sắc. Ước mơ mãnh liệt ấy ngày đêm luôn thôi
thúc, buộc ông lên đường “tầm sư học đạo”. Để học được nghề, ông phải
cải trang người Hoa xin vào giúp việc cho một chủ tiệm vàng ở Thăng Long
(Hà Nội). Bởi thời kỳ này chỉ có người Trung Hoa mới nắm được cách chế
tác và độc quyền sản xuất, buôn bán vàng bạc.

Tính hiếu học và lòng trung thực của ông khiến chủ tiệm kim hoàn người Hoa cảm động, quý mến và truyền nghề cho ông. Mặc dù người Hoa có tiếng là giữ nghề, không truyền cho người ngoài, nhưng với tư chất thông minh, lanh lợi sẵn có, ông quan sát tìm hiểu và nắm bắt được biết quyết nghề kim hoàn của người Hoa. Với ý chí phải học cho thành tài, ông học cả cách chế tạo dụng cụ cần thiết của nghề chạm trổ vàng bạc và không từ chối bất cứ việc gì chủ sai bảo. Công sức của ông đã được đền đáp xứng đáng, tay nghề ông ngày càng thành thạo và đạt trình độ kỹ thuật tinh xảo đủ sức tranh tài với những thợ kim hoàn người Hoa khác tại đất Thăng Long thời bấy giờ.
Năm 1783, Ông Cao Đình Độ đưa vợ con vào làng Kế Môn, huyện Phong Điền, Thuận Hóa lập nghiệp và truyền nghề cho con. Thừa hưởng đức tính thông minh của cha, cong trai ông – Cao Đình Hương, tiếp thu nghề kim hoàn một cách nhanh chóng và trở thành một nghệ nhân thành thục trong nghề. Tại Thuận Hóa, Ông Cao Đình Độ có thu nhận để tử, truyền nghề cho họ. Làng Kế Môn trở thành làng nghề kim hoàn từ đó.
Dưới thời vua Quang Trung, danh tiếng Ông Cao Đình Độ được lan truyền đến triều đình. Năm 1790, vua Quang Trung triệu hai cha con ông cùng một số thợ bạc ở làng Kế Môn vào triều để lập cơ vệ Ngân Tượng, nơi chuyên nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ vàng bạc và đồ trang sức cung điện. Trước công đức và những đóng góp lớn lao đó, ông được triều đình phong chức Lãnh Binh, cùng gia đình sống tại làng Cao Hậu, huyện Hương Trà.
Đến khi Nguyễn Ánh lập nên triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, tất cả mọi thành tựu văn hóa dưới triều Quang Trung điều bị phá hủy, chỉ duy nhất ngành Ngân Tượng được bảo tồn. Hai cha con ông Cao Đình Độ và Cao Đình Hương cũng như nhóm thợ làng Kế Môn vẫn được vua Gia Long trọng dụng, cấp bổng lộc và giữ nguyên tước cũ để tiếp tục nghề kim hoàn trong cung điện.
Năm 1810, Ông Cao Đình Độ qua đời, hưởng thọ 66 tuổi. Mặc dù còn được kế tục sự nghiệp của cha trong triều với chức quan Lãnh Binh, nhưng bằng cách nhìn nhạy bén của người trong nghề, Cao Đình Hương nhìn thấy hoài bão của cha mình sẽ bị mai một theo thời gian, không những thế, nghề kim hoàn sẽ bị thất truyền nếu ông chỉ quanh quẩn phục vụ trong cung vua. Cao Đình Hương quyết định từ quan về nhà để tìm người nối nghiệp gia đình. Nghề kim hoàn ở miền Trung từ đó mà được nhân rộng.
Cảm phục tài nghệ và danh tiếng Cao Đình Hương, quan Thượng thư bộ Lại lúc bấy giờ là Trần Minh, cùng vợ là Huỳnh Thị Ngoc (dưới thời Gia Long) mời ông về dinh phủ dạy nghề kim hoàn cho ba người con trai: Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền và ba người cháu: Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật. Ròng rã suốt 11 năm truyền dạy cho các học trò, năm 1821, Ông Cao Đình Hương qua đời. Trước khi mất, tâm huyết sau cùng của ông là mong muốn học trò của mình đem nghề kim hoàn truyền bá rộng rãi trong dân gian.
Theo di chúc của thầy, ba anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền ngược ra Thăng Long (Hà Nội) mở lò thu nhận đệ tử. Riêng anh em họ Huỳnh theo dòng người lập nghiệp xuôi vào phương Nam, đến Phan Thiết thì dừng chân, vừa thu nhận đệ tử truyền nghề, vừa để tưởng nhớ một người anh em của mình đã qua đời tại đây. Nghề kim hoàn ở Phan Thiết được khai sinh từ đó.
Ở miền Nam, nghề kim hoàn lúc ấy vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Theo ước nguyện của thầy, từ Thăng Long, anh em họ Trần bắt đầu cuộc hành trình xuôi vào Phương Nam. “Đất lành chim đậu”, điểm dừng chân của họ là Gia Định - Chợ Lớn, nơi có thương cảng sầm uất, hội tụ thương hồ từ các tỉnh lân cận, kể từ Cao Miên (Campuchia), Xiêm La (Thái Lan), đến buôn bán náo nhiệt. Ba ông chọn địa điểm cách Chợ Lớn khoảng một dặm (cảng Bình Đông ngày nay) mở lò thợ bạc tại đây lại có điều kiện phát triển rộng khắp.
Sau khi truyền nghề cho 36 lò thợ bạc ở Chợ Lớn, anh em họ Trần lại tiếp tục hành trình đến các tỉnh miền Tây, ngược qua Campuchia, Thái Lan… rồi qua đời ở đâu không ai biết. Nếu như tiền tổ họ Cao có công khai sáng nghề Kim Hoàn, thì họ Trần, Huỳnh chính là những người có công phổ biến nghề Kim Hoàn trên khắp đất nước, suốt từ Bắc vào Nam. Họ được người trong nghề tôn vinh là tổ sư đời thứ Hai của ngành kim hoàn Việt Nam.
Công lao của các tổ sư kim hoàn không chỉ được người đời sau luôn ghi nhớ, mà còn nhận được nhiều sắc phong của triều đình, đặc biệt dưới triều Nguyễn. Hiện nay, tại nhà thờ tổ nghề kim hoàn ở Huế và Lệ Châu hội quán (Thành Phố Hồ Chí Minh) còn lưu giữ nhiều bản sắc phong của các vua nhà Nguyễn. Đó là hàm cấp bậc “Tiến sĩ khai hóa Kim Ngân” với phẩm tước đại triều “Dực Bảo Trung Hưng”, chức Lãnh Binh của vua Gia Long cho ông Cao Đình Độ. Sau khi mất ông còn được truy phong thêm tước hiệu “Đệ Nhất tổ sư”. Đến thời vua Minh Mạng, hai cha con Cao Đình Độ, Cao Đình Hương được sắc phong “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò Bổn Xứ - khai hóa kim ngân Thế Tổ Cao Đình Độ tọa thần vị - Cao Đình Hương linh thần vị”, phong tước hiệu “Đệ nhị tổ sư” cho ông Cao Đình Hương, được ban đất xây lăng như các quan đại thần. Đời vua Khải Định năm thứ 9 và Bảo Đại năm thứ 13, hai ông được sắc phong “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần” cho người có công khai sáng ngành kim hoàn Việt Nam.
Lăng mộ hai vị Tổ sư đời thứ nhất đều tọa lạc tại phường Trường An về phía Nam thành phố Huế, trong đó lăng mộ đệ Nhất Tổ sư Cao Đình Độ xây dựng năm 1810, lăng mộ đệ Nhị Tổ sư Cao Đình Hương xây dựng năm 1821, theo kiến trúc văn hóa đặc trưng của triều Nguyễn. Đền thờ hai ông được đặt tại phường Phú Cát (Huế). Cả khu mộ và nhà thờ tổ nghề kim hoàn đã được Bộ Văn Hóa Thông tin cấp bằng Di tích Lịch sử Văn hóa.
Để tưởng nhớ công lao to lớn của hai vị Tổ nghiệp, hằng năm, các thợ kim hoàn miền Trung (Huế) tổ chức lễ giỗ tổ Ông Cao Đình Độ vào ngày 27-2 (âm lịch). Tại làng Định Công (Hà Nội), giỗ tổ sư họ Trần, Phan Thiết giỗ tổ sư họ Huỳnh.
Qua những biến chuyển của thời đại, nghề kim hoàn không bị mai một mà còn được lưu giữ, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù ngày nay, vàng bạc được sản xuất chủ yếu trên dây chuyền hiện đại, nhưng tổ thờ vẫn được coi trọng và tôn thờ.
Nghề Kim Hoàn

Tính hiếu học và lòng trung thực của ông khiến chủ tiệm kim hoàn người Hoa cảm động, quý mến và truyền nghề cho ông. Mặc dù người Hoa có tiếng là giữ nghề, không truyền cho người ngoài, nhưng với tư chất thông minh, lanh lợi sẵn có, ông quan sát tìm hiểu và nắm bắt được biết quyết nghề kim hoàn của người Hoa. Với ý chí phải học cho thành tài, ông học cả cách chế tạo dụng cụ cần thiết của nghề chạm trổ vàng bạc và không từ chối bất cứ việc gì chủ sai bảo. Công sức của ông đã được đền đáp xứng đáng, tay nghề ông ngày càng thành thạo và đạt trình độ kỹ thuật tinh xảo đủ sức tranh tài với những thợ kim hoàn người Hoa khác tại đất Thăng Long thời bấy giờ.
Năm 1783, Ông Cao Đình Độ đưa vợ con vào làng Kế Môn, huyện Phong Điền, Thuận Hóa lập nghiệp và truyền nghề cho con. Thừa hưởng đức tính thông minh của cha, cong trai ông – Cao Đình Hương, tiếp thu nghề kim hoàn một cách nhanh chóng và trở thành một nghệ nhân thành thục trong nghề. Tại Thuận Hóa, Ông Cao Đình Độ có thu nhận để tử, truyền nghề cho họ. Làng Kế Môn trở thành làng nghề kim hoàn từ đó.
Dưới thời vua Quang Trung, danh tiếng Ông Cao Đình Độ được lan truyền đến triều đình. Năm 1790, vua Quang Trung triệu hai cha con ông cùng một số thợ bạc ở làng Kế Môn vào triều để lập cơ vệ Ngân Tượng, nơi chuyên nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ vàng bạc và đồ trang sức cung điện. Trước công đức và những đóng góp lớn lao đó, ông được triều đình phong chức Lãnh Binh, cùng gia đình sống tại làng Cao Hậu, huyện Hương Trà.
Đến khi Nguyễn Ánh lập nên triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, tất cả mọi thành tựu văn hóa dưới triều Quang Trung điều bị phá hủy, chỉ duy nhất ngành Ngân Tượng được bảo tồn. Hai cha con ông Cao Đình Độ và Cao Đình Hương cũng như nhóm thợ làng Kế Môn vẫn được vua Gia Long trọng dụng, cấp bổng lộc và giữ nguyên tước cũ để tiếp tục nghề kim hoàn trong cung điện.
Năm 1810, Ông Cao Đình Độ qua đời, hưởng thọ 66 tuổi. Mặc dù còn được kế tục sự nghiệp của cha trong triều với chức quan Lãnh Binh, nhưng bằng cách nhìn nhạy bén của người trong nghề, Cao Đình Hương nhìn thấy hoài bão của cha mình sẽ bị mai một theo thời gian, không những thế, nghề kim hoàn sẽ bị thất truyền nếu ông chỉ quanh quẩn phục vụ trong cung vua. Cao Đình Hương quyết định từ quan về nhà để tìm người nối nghiệp gia đình. Nghề kim hoàn ở miền Trung từ đó mà được nhân rộng.
Cảm phục tài nghệ và danh tiếng Cao Đình Hương, quan Thượng thư bộ Lại lúc bấy giờ là Trần Minh, cùng vợ là Huỳnh Thị Ngoc (dưới thời Gia Long) mời ông về dinh phủ dạy nghề kim hoàn cho ba người con trai: Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền và ba người cháu: Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật. Ròng rã suốt 11 năm truyền dạy cho các học trò, năm 1821, Ông Cao Đình Hương qua đời. Trước khi mất, tâm huyết sau cùng của ông là mong muốn học trò của mình đem nghề kim hoàn truyền bá rộng rãi trong dân gian.
Theo di chúc của thầy, ba anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền ngược ra Thăng Long (Hà Nội) mở lò thu nhận đệ tử. Riêng anh em họ Huỳnh theo dòng người lập nghiệp xuôi vào phương Nam, đến Phan Thiết thì dừng chân, vừa thu nhận đệ tử truyền nghề, vừa để tưởng nhớ một người anh em của mình đã qua đời tại đây. Nghề kim hoàn ở Phan Thiết được khai sinh từ đó.
Ở miền Nam, nghề kim hoàn lúc ấy vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Theo ước nguyện của thầy, từ Thăng Long, anh em họ Trần bắt đầu cuộc hành trình xuôi vào Phương Nam. “Đất lành chim đậu”, điểm dừng chân của họ là Gia Định - Chợ Lớn, nơi có thương cảng sầm uất, hội tụ thương hồ từ các tỉnh lân cận, kể từ Cao Miên (Campuchia), Xiêm La (Thái Lan), đến buôn bán náo nhiệt. Ba ông chọn địa điểm cách Chợ Lớn khoảng một dặm (cảng Bình Đông ngày nay) mở lò thợ bạc tại đây lại có điều kiện phát triển rộng khắp.
Sau khi truyền nghề cho 36 lò thợ bạc ở Chợ Lớn, anh em họ Trần lại tiếp tục hành trình đến các tỉnh miền Tây, ngược qua Campuchia, Thái Lan… rồi qua đời ở đâu không ai biết. Nếu như tiền tổ họ Cao có công khai sáng nghề Kim Hoàn, thì họ Trần, Huỳnh chính là những người có công phổ biến nghề Kim Hoàn trên khắp đất nước, suốt từ Bắc vào Nam. Họ được người trong nghề tôn vinh là tổ sư đời thứ Hai của ngành kim hoàn Việt Nam.
Công lao của các tổ sư kim hoàn không chỉ được người đời sau luôn ghi nhớ, mà còn nhận được nhiều sắc phong của triều đình, đặc biệt dưới triều Nguyễn. Hiện nay, tại nhà thờ tổ nghề kim hoàn ở Huế và Lệ Châu hội quán (Thành Phố Hồ Chí Minh) còn lưu giữ nhiều bản sắc phong của các vua nhà Nguyễn. Đó là hàm cấp bậc “Tiến sĩ khai hóa Kim Ngân” với phẩm tước đại triều “Dực Bảo Trung Hưng”, chức Lãnh Binh của vua Gia Long cho ông Cao Đình Độ. Sau khi mất ông còn được truy phong thêm tước hiệu “Đệ Nhất tổ sư”. Đến thời vua Minh Mạng, hai cha con Cao Đình Độ, Cao Đình Hương được sắc phong “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò Bổn Xứ - khai hóa kim ngân Thế Tổ Cao Đình Độ tọa thần vị - Cao Đình Hương linh thần vị”, phong tước hiệu “Đệ nhị tổ sư” cho ông Cao Đình Hương, được ban đất xây lăng như các quan đại thần. Đời vua Khải Định năm thứ 9 và Bảo Đại năm thứ 13, hai ông được sắc phong “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần” cho người có công khai sáng ngành kim hoàn Việt Nam.
Lăng mộ hai vị Tổ sư đời thứ nhất đều tọa lạc tại phường Trường An về phía Nam thành phố Huế, trong đó lăng mộ đệ Nhất Tổ sư Cao Đình Độ xây dựng năm 1810, lăng mộ đệ Nhị Tổ sư Cao Đình Hương xây dựng năm 1821, theo kiến trúc văn hóa đặc trưng của triều Nguyễn. Đền thờ hai ông được đặt tại phường Phú Cát (Huế). Cả khu mộ và nhà thờ tổ nghề kim hoàn đã được Bộ Văn Hóa Thông tin cấp bằng Di tích Lịch sử Văn hóa.
Để tưởng nhớ công lao to lớn của hai vị Tổ nghiệp, hằng năm, các thợ kim hoàn miền Trung (Huế) tổ chức lễ giỗ tổ Ông Cao Đình Độ vào ngày 27-2 (âm lịch). Tại làng Định Công (Hà Nội), giỗ tổ sư họ Trần, Phan Thiết giỗ tổ sư họ Huỳnh.
Qua những biến chuyển của thời đại, nghề kim hoàn không bị mai một mà còn được lưu giữ, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù ngày nay, vàng bạc được sản xuất chủ yếu trên dây chuyền hiện đại, nhưng tổ thờ vẫn được coi trọng và tôn thờ.
Nghề Kim Hoàn
NHỮNG ĐIỀU MAY MẮN CUỐI TUẦN
Hôm nay mình và một số anh trong Ban chấp hành Hội Mỹ Nghệ Kim Hoàn Sài Gòn – SJA và Trường dạy nghề kim hoàn của Hội đi giao lưu và cúng chùa thờ Tổ Nghề Kim Hoàn tỉnh Tây Ninh.
Đây là lần đầu tiên mình đến đây và cũng là nhờ bạn thân báo tin và đăng ký cho đi theo dùm. Nào ngờ lúc làm lễ cúng mình được phát áo dài khăn đống trông rất trịnh trọng và được xem như thay mặt Hội ở Sài Gòn cúng chùa Tổ Tây Ninh.
Vì mới quay lại với Tổ Nghề Kim Hoàn nên mình xem như đây là điều may mắn rất quan trọng các bạn ạ. Và thật sự mình rất xúc động khi làm lễ dâng hương đèn lên bàn thờ Tổ Nghề. Mong rằng điều may mắn này củng cố thêm niềm tin vào con đường mình đang đi các bạn ạ. Chúc các bạn cuối tuần cũng vui vẽ và may mắn.

Nguyễn Chí Cường
Nghề Kim Hoàn
Đây là lần đầu tiên mình đến đây và cũng là nhờ bạn thân báo tin và đăng ký cho đi theo dùm. Nào ngờ lúc làm lễ cúng mình được phát áo dài khăn đống trông rất trịnh trọng và được xem như thay mặt Hội ở Sài Gòn cúng chùa Tổ Tây Ninh.
Vì mới quay lại với Tổ Nghề Kim Hoàn nên mình xem như đây là điều may mắn rất quan trọng các bạn ạ. Và thật sự mình rất xúc động khi làm lễ dâng hương đèn lên bàn thờ Tổ Nghề. Mong rằng điều may mắn này củng cố thêm niềm tin vào con đường mình đang đi các bạn ạ. Chúc các bạn cuối tuần cũng vui vẽ và may mắn.
Nguyễn Chí Cường
Nghề Kim Hoàn
Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013
Vàng nội bất động dù vàng ngoại đang nóng
Giá vàng trong nước dường như vẫn bất động dù giá vàng thế giới đang nóng lên theo tình hình tài chính của Síp.
Vào lúc 8h45 sáng nay, giá vàng tại công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC rất ít thay đổi so với giá cuối ngày hôm qua và vẫn giao dịch dưới quanh 44 triệu đồng/lượng. Giá vàng SJC Hà Nội: Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 44,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng SJC Hồ Chí Minh: Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 44 triệu đồng/lượng.
Giá vàng tại Công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận cũng thay đổi chậm chạp. Giá vàng SJC: Mua vào 43,90 triệu đồng/lượng; bán ra 44,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng Phượng hoàng PNJ-DAB: Mua vào 43,63 triệu đồng/lượng; bán ra 43,93 triệu đồng/lượng.
Công ty vàng bạc đá quý Doji điều chỉnh giá vàng giảm rất nhẹ. Giá vàng Doji Hà Nội (bán lẻ): Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 43,99 triệu đồng/lượng. Giá vàng Doji Tp Hồ Chí Minh (bán lẻ): Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 43,99 triệu đồng/lượng.
Giá vàng tại công ty vàng bạc đá quý SBJ mua vào ở mức thấp nhất. Giá vàng SJC giao dịch ở mức: Mua vào - bán ra (43,80 triệu đồng/lượng – 44 triệu đồng/lượng). Giá vàng SBJ cũng giao dịch ở mức: Mua vào 43,80 triệu đồng/lượng - bán ra 44 triệu đồng/lượng.
Giá vàng trong nước ít biến động dù giá vàng thế giới đảo chiều, tăng đáng kể. Đêm qua, tại thị trường Mỹ, giá vàng giao tháng tư tăng 7,1 Usd/ounce lên 1.614,60 Usd/ounce, giá vàng giao ngay tăng 8,5 USD/ounce lên 1.615,75 USD/ounce.
Giá vàng tăng khi khủng hoảng tài chính tại Síp vẫn chưa có tín hiệu lắng dịu dù nước này không thông qua chính sách đánh thuế tiền gửi tiết kiệm. Hiện tại, nhiều ngân hàng nước này vẫn đóng cửa cho tới tận tuần sau.
Tình hình đang trở nên khá rắc rối khi Nga muốn bắt tay vào giải quyết nhưng Liên minh châu Âu và Quỹ tiền tệ quốc tế lại không muốn như vậy. Hiện tại, nhiều người trong giới siêu giàu tại Nga có lượng tiền rất lớn tại nhiều ngân hàng Síp.
Tới phiên giao dịch sáng nay, giá vàng đảo chiều giảm rất nhẹ. Lúc này tại thị trường châu Á, giá vàng đang giao dịch ở mức 1.614,1 USD/ounce, giảm 0,7 USD/ounce. Trong phiên có lúc giá vàng gần giảm xuống 1.605 USD/ounce.
Giá vàng giảm dù đồng USD tiếp tục suy yếu. USD giảm 0.0012(0.10%) so với EUR, giảm 0.0018(0.12%) so với GBP, giảm 0.0014(0.12%) so với CAD và giảm 0.0003(0.03%) so với CHF. Trong rổ 6 đồng tiền mạnh, USD chỉ tăng so với JPY và AUD.
Trong khi đó, giá dầu lại hạ nhiệt. Giá dầu thô giao dịch ở mức 92,64 USD/thùng, giảm 0,14%, giá dầu brent giao dịch ở mức 107,47 USD/thùng, tăng 0,12%.
Nghề Kim Hoàn
Vào lúc 8h45 sáng nay, giá vàng tại công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC rất ít thay đổi so với giá cuối ngày hôm qua và vẫn giao dịch dưới quanh 44 triệu đồng/lượng. Giá vàng SJC Hà Nội: Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 44,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng SJC Hồ Chí Minh: Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 44 triệu đồng/lượng.
Giá vàng tại Công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận cũng thay đổi chậm chạp. Giá vàng SJC: Mua vào 43,90 triệu đồng/lượng; bán ra 44,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng Phượng hoàng PNJ-DAB: Mua vào 43,63 triệu đồng/lượng; bán ra 43,93 triệu đồng/lượng.
Công ty vàng bạc đá quý Doji điều chỉnh giá vàng giảm rất nhẹ. Giá vàng Doji Hà Nội (bán lẻ): Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 43,99 triệu đồng/lượng. Giá vàng Doji Tp Hồ Chí Minh (bán lẻ): Mua vào 43,92 triệu đồng/lượng; bán ra 43,99 triệu đồng/lượng.
Giá vàng tại công ty vàng bạc đá quý SBJ mua vào ở mức thấp nhất. Giá vàng SJC giao dịch ở mức: Mua vào - bán ra (43,80 triệu đồng/lượng – 44 triệu đồng/lượng). Giá vàng SBJ cũng giao dịch ở mức: Mua vào 43,80 triệu đồng/lượng - bán ra 44 triệu đồng/lượng.
Giá vàng trong nước ít biến động dù giá vàng thế giới đảo chiều, tăng đáng kể. Đêm qua, tại thị trường Mỹ, giá vàng giao tháng tư tăng 7,1 Usd/ounce lên 1.614,60 Usd/ounce, giá vàng giao ngay tăng 8,5 USD/ounce lên 1.615,75 USD/ounce.
Giá vàng tăng khi khủng hoảng tài chính tại Síp vẫn chưa có tín hiệu lắng dịu dù nước này không thông qua chính sách đánh thuế tiền gửi tiết kiệm. Hiện tại, nhiều ngân hàng nước này vẫn đóng cửa cho tới tận tuần sau.
Tình hình đang trở nên khá rắc rối khi Nga muốn bắt tay vào giải quyết nhưng Liên minh châu Âu và Quỹ tiền tệ quốc tế lại không muốn như vậy. Hiện tại, nhiều người trong giới siêu giàu tại Nga có lượng tiền rất lớn tại nhiều ngân hàng Síp.
Tới phiên giao dịch sáng nay, giá vàng đảo chiều giảm rất nhẹ. Lúc này tại thị trường châu Á, giá vàng đang giao dịch ở mức 1.614,1 USD/ounce, giảm 0,7 USD/ounce. Trong phiên có lúc giá vàng gần giảm xuống 1.605 USD/ounce.
Giá vàng giảm dù đồng USD tiếp tục suy yếu. USD giảm 0.0012(0.10%) so với EUR, giảm 0.0018(0.12%) so với GBP, giảm 0.0014(0.12%) so với CAD và giảm 0.0003(0.03%) so với CHF. Trong rổ 6 đồng tiền mạnh, USD chỉ tăng so với JPY và AUD.
Trong khi đó, giá dầu lại hạ nhiệt. Giá dầu thô giao dịch ở mức 92,64 USD/thùng, giảm 0,14%, giá dầu brent giao dịch ở mức 107,47 USD/thùng, tăng 0,12%.
Nghề Kim Hoàn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

